Trang chủ arrow Đông y khái luận arrow Chương tám mươi mốt - GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN
Chương tám mươi mốt - GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN
25/01/2019
KINH VĂN

 Lôi Công hỏi rằng:

 - Khốc (khóc thành tiếng), khấp (khóc ngầm) mà lệ (nước mắt) không ra hoặc ra mà ít "thế" (nước mũi) là vì sao?

 Hoàng Đế dạy rằng:

 - Tâm là chuyên tinh của năm Tàng. Nó khai khiếu lên mắt, hiện ra sắc là phần tươi tốt của tâm. Vì vậy, phàm người có đức, thời khí hòa hiện ra mắt; có việc lo buồn, thời rầu rĩ tỏ ra sắc.

 Vì vậy, bi ai thời "khấp hạ" (khóc có lệ rơi). Khấp hạ là do Thủy sinh. Thủy do tông mạch; tích thủy tức là Chí âm. Chí âm là tinh của Thận. Sở dĩ lệ không rơi, là do tinh nó cũng giằng co, nên Thủy không xuất được (1).

 Nghĩ như: tinh của Thủy là chí, tinh của Hỏa là thần; Thủy Hỏa tương cảm, thần chí đều bi, do đó Thủy mới từ trong mắt chảy ra. Cho nên "ngạn" có nói "Tâm bi", gọi là "chí bi". Vì chí với Tâm tinh, đều dồn lên mắt.

 Vì vậy, đều bi, thời thần khí truyền vào Tâm tinh, nên không truyền lên chí, mà chí độc bi, cho nên khấp mà lệ ra (2).

***

 "Thế" phát sinh ra tự não (óc). Não thuộc âm; Tủy, là một chất làm đầy ở trong xương. Não thấm (rích) ra thành thế. Chí là chủ của xương. Vì vậy, thủy chảy mà thế theo, là nó theo về đồng loại.

 "Thế" với "khấp" (tức lệ) ví như anh với em, nếu mạch "cấp" thời đều chết, nếu sống thời đều sống. Nếu chí mà sớm bi, thời "thế" và "khấp" sẽ đồng thời đằm đìa (3).
 
 Lôi Công hỏi rằng:

 - Có người khốc khấp mà "lệ" không ra; có khi "lệ" ra mà ít "thế", là vì sao?

 Hoàng Đế dạy rằng:

 - Khấp mà lệ không ra, là do khốc mà không thật bi. Không khấp là do thần không bi; thần không bi thời chí không bi. Âm dương cũng giằng co nhau, khấp (lệ) sao ra một mình được. Đại phàm, về chí mà bi, thời uất khí xung âm, xung âm thời chí rời khỏi mắt; chí đã rời thời thần không giữ tinh. Tinh thần rời khỏi mắt, thời "thế" và "khấp" đồng thời ra (4).

***

 - Va, gã (Lôi Công) không nhớ ở Kinh (Linh khu) dạy ư? Phàm chứng quyết, thời mắt không còn trông thấy. Vì người mắc chứng quyết, thời Dương khí dồn lên trên, Âm khí dồn xuống dưới, Dương khí dồn lên trên thời hỏa sáng một mình; Âm khí dồn xuống dưới thời chân lạnh và bụng trướng, xem đó thời biết "một thủy" không thắng được "năm hỏa", cho nên thành mục manh (5).

***

 Vì vậy, ra gió thời lệ rơi. Bởi gió nó thổi vào mắt khiến cho Dương khí không giữ với tinh, một mình dương hỏa thiêu vào mắt, nên mới lệ rơi (6).

 Muốn so sánh, thời như: hỏa mạnh sinh phong sẽ biến thành mưa... âu cùng một loài vậy (7).

 
Chú giải

 (1) Bi ai động đến Tâm chí, cho nên "khấp hạ" mà Thủy sinh ra. Tinh của Thận Tàng, Thủy do tông mạch mà trên thông lên Tâm, ngoài rớt ra mắt, cho nên nói: "Mắt là nơi tụ hội của tông mạch". Nếu chí không bi, thì tinh bị "giằng" ở dưới, khiến cho Thủy không thể dẫn lên. Đây có ý nói tinh thủy ở dưới, phải có động đến Thận chí, rồi mới có thể dẫn lên.

 (2) Đây nói thần sinh ra ở tinh, chí sinh ra ở Tâm; Trong Ly có hư, trong Khảm có mãn, đó là Thủy Hỏa trên dưới hỗ giao với nhau. Linh khu nói: "Cái sở sinh nó lại gọi là tinh; hai tinh cùng xen nhau gọi là thần...". Vậy là thần khí sinh ra bởi Tâm. Cho nên nói: "Đều bi", thì thần khí truyền lên Tâm, thế là nói: cái thần khí ở Tâm tàng, vốn sinh ra tự Thận Tàng. Lại nói: Tâm có cái "sở ức" (1) gọi là ý, ý có "sở tồn" (2) gọi là chí. Vậy thế là chính cũng sinh ra bởi Tâm. Cho nên nói: "tinh, trên không truyền với chí..." tức là nói tinh không truyền với chí, mà chí "độc bi" ở trên, nên mới khấp xuất.

 1) Sở ức: Cái điều gì hoặc nghĩ tới, nhớ tới.

 2) Sở tồn: Nhớ ở trong bụng. Trong bụng lúc nào cũng nghĩ đến.

 (3) Thế với khấp đều phát sinh từ Thận. Vậy từ mạch của Thận hiện ra, "cấp" như gõ vào đá, thì sẽ đều chết. Nếu là sống, thì đồng thời đều chảy ra. 

 (4) Đây lại nói rõ thêm "khấp" phát ra từ thần rồi đến chí, mà "thế" thì phát ra từ chí rồi mới đến thần. Cho nên thần không bi thì chí không bi, mà tinh không ra. Chí động thì thần không "thủ", mà thế, khấp đều ra. Vậy là thần "thủ" thì chí yên, chí động thì thần động. "Âm dương cùng giằng co", là nói về thần chí của thủy hỏa, chủ trì ở trong thì tinh không tiết ra. "Uất uất xung âm", đó là nói về chí xung lên trên não. Ở con ngời, mục hệ trên nối với não, cho nên chí xung lên âm thì chí rời đi, mà chạy ra mắt; chí đã rời đi thì thần không "độc thủ" được tinh, khiến cho tinh thần đều rời đi chạy ra cả mắt, do đó mới thành thế khấp đầm đìa.

 (5) Quyết là một chứng thủy hỏa không tương giao mà tương nghịch. Tinh khí của cốt là đồng tử. Tinh khí của Thận không thông lên mắt, nên mắt không trông thấy. Tâm là Thái dương ở trong dương, mà là chuyên tinh của năm Tàng cho nên dương dồn lên trên, không được âm khí để điều hòa, thì Hỏa sẽ sáng một mình ở trên; Thận là Thủy Tàng nhận chứa tinh của năm Tàng; âm mạch hợp ở dưới chân mà tụ ở Túc tâm. Cho nên âm dồn xuống dưới, không được Dương khí để điều hòa, thì chân lạnh và bụng trướng, "một thủy" tức là thủy của Thái dương, theo khí mà vận hành ra ngoài phu biểu... Thủy với hỏa của Thiếu âm, để ứng với nhật nguyệt của trời, đều cùng hội họp mà không thể rời. Vì vậy âm dương quyết nghịch, thì con mắt bị thong manh (còn đồng tử mà không trông thấy).

 (6) Gió tức là Dương khí của trời. Dương khí của con người tức là thần khí. Hỏa khí, cũng là Dương khí ở con người. Thần khí trong giữ với tinh, Dương khí ngoài thông với mắt. Gặp gió thì khí theo gió động, mà thần không giữ tinh. Đến nỗi tinh thần đều rời bỏ mắt, nên lệ mới chảy ra.

 (7) "Hỏa mạnh sinh phong v.v" là nói khí sinh ra bởi thần, thần sinh ra bởi tinh, tinh lại theo thần khí mà vận hành. Nghĩ như: nhật, nguyệt, tinh, thủy của trời, theo trời mà vận hành chẳng nghỉ. Tinh thần của con người cũng theo khí mà hoàn chuyển không ngừng. Hai mắt của con người ứng với nhật nguyệt của trời để mà ngày đêm khai hạp.

 Án: Bản kinh 81 thiên, bàn về y đạo, theo cái số sở dụng của "thiên, địa, nhân", là "tam, lục, cửu". Bởi người sinh ra ở trong khoảng khí giao của trời đất, thông với đạo của trời, ứng với lý của đất; đất ở bên dưới người, đại khí cử lên, không nương tựa vào đâu... Đó là trời bọc ở ngoài đất, mà vận hành không lúc nào ngừng. Số bắt đầu ở "nhất", mà thành ở "tam", mà gấp đôi sẽ thành "lục"; tam mà gấp ba, sẽ thành "cửu". Đó là cái số do từ "vô cực" mà sinh ra Thiên Địa Âm Dương vậy. Thánh nhân vần xoay trời đất, nắm giữ âm dương; thở hút tinh khí, độc lập giữ thần; tự nuôi dưỡng tinh, khí, thần để sánh với trời; lại hút tinh, khí, thần của trời để tự nuôi... Tới được cái cõi không còn phải sinh, không còn phải hóa, với đạo cùng hợp, siêu ra ngoài vòng trời đất, lại trở về vô cực, mà không còn biết đến đâu là cùng. Vì vậy, soạn thuật mấy vạn lời nói, mà bảy thiên cuối lại chuyên bàn về thiên đạo, để ứng với cái số "cửu cửu" (81), nói rõ "Tinh, Khí, Thần", ngõ hầu trở lại Thiên chân. Mong cho thiên hạ muôn đời, thoát khỏi vòng tật ách, cùng tới cõi trường sinh... Kẻ sĩ học đạo, há không nên đêm ngày sử dụng và nghiên cứu bộ Tố vấn này để cho đạt được đức hiếu sinh của Hoàng Đế hay sao?

(HẾT QUYỂN THỨ X)

Các bài mới:

Các bài đã đăng:

 
< Trước   Tiếp >