Trang chủ arrow Đông y khái luận arrow Chương ba mươi tám - KHÁI LUẬN THÊN
Chương ba mươi tám - KHÁI LUẬN THÊN
20/01/2019
KINH VĂN

 Hoàng Đế hỏi:

 - Bệnh ở Phế, mà thành chứng ho, là vì sao?

 Kỳ Bá thưa rằng:

 - Năm Tàng sáu Phủ, đều gây nên chứng "khái" không riêng gì một Phế,

 - Xin cho biết chứng trạng...

 - Bì mao, gốc sinh ra tự Phế. Bì mao mắc phải tà khí trước, tà khí liền theo với chỗ gốc sinh ra nó.

 Các thức uống ăn có tính lạnh lọt vào vị theo Phế mạch dẫn lên Phế, thời Phế hàn. Phế hàn thời trong ngoài đều có tà, tà ký luôn ở đó, liền gây nên chứng Phế khái.

 Năm Tàng đều theo về từng mùa, để mắc bệnh, nếu không phải mùa, sẽ truyền lẫn cho nhau. Người với trời đất "tương tham", cho nên năm Tàng đều theo từng mùa để chủ trị. Cảm vì hàn thời mắc bệnh, nhẹ thời gây nên chứng khái, nặng thời gây nên chứng tiết, chứng thống (đau). Gặp mùa thu thì Phế bị tà trước, gặp mùa xuân thì Can bị tà trước, gặp mùa hạ thì Tâm bị tà trước, gặp chí âm thì Tỳ bị tà trước, gặp mùa đông thì Thận bị tà trước.

 Hoàng Đế hỏi:

 - Chứng trạng khác nhau thế nào?

 Kỳ Bá thưa rằng:

 - Chứng trạng của Phế khái, khái mà thở suyễn thành tiếng, quá lắm thời nhổ ra huyết. Chứng trạng của Tâm khái, khái thời Tâm thống, trong cuống họng vướng mắc như nghẹn, quá lắm thời yết thũng, hầu tý. Chứng trạng của Can khái, khái thời hai hiếp đau, quá lắm thời không thể trở mình, trở mình thời dưới khư (dưới hiếp, tức lá lách) đầy. Chứng trạng của Tỳ khái, khái thời hữu hiếp đau, đau âm ỷ lên cả vai và lưng, quá lắm thời không thể cử động, cử động thời khái. Chứng trạng của Thận khái, khái thời đau nhức cả vai lưng, quá lắm thời khái ra dãi dây.

 Hoàng Đế hỏi:

 - Chứng trạng của khái do sáu Phủ, thế nào?

 Kỳ Bá thưa rằng:

 - Năm Tàng mắc khái lâu, sẽ đi sang sáu Phủ. Tỳ khái không dứt, thời di sang Vị. Chứng trạng của Vị khái, lúc khái thường nôn, quá lắm nôn cả ra giun. Can khái không dứt, thời di sang Đởm. Chứng trạng của Đởm khái, lúc khái nôn cả đởm chấp (chua, đắng). Tâm khái không dứt, thời di xuống Tiểu trường. Chứng trạng của Tiểu trường khái, lúc khái thời thất khí (trung tiện), khí với khái đều mất. Thận khái không dứt, di sang Bàng quang. Chứng trang của Bàng quang khái, lúc khái thời di niệu (són đái). Khái lâu không dứt thới di tới Tam tiêu. Chứng trạng của Tam tiêu khái, lúc khái thời phúc mãn, không muốn uống ăn. Chứng đó đều tụ ở Vị, liên quan lên Phế, khiến bệnh nhân sinh nhiều nước mũi, nước dãi, mặt phù thũng, do khí nghịch gây nên...

 - Phương pháp trị liệu thế nào?

 - Trị Tàng thời trị ở Du, trị Phủ thời trị ở Hợp, nếu phù thũng thời trị ở Kinh (1).

Chú giải

 (1) Khái do năm Tàng, đều trị ở Du. Du của năm Tàng đều ở lưng, có phép đo đã nói trước. "Hợp" để trị nội Phủ. Cho nên khái do sáu Phủ thì trị ở hợp. Như vị hợp với Tam lý (tên huyệt, dưới cũng vậy); Đại trường hợp với Cự hư, Thượng liêm; Tiểu trường hợp với Cự hư, Hạ liêm; Tam tiêu hợp với Ủy dương; Bàng quang hợp với Ủy trung; Đởm hợp với Dương lăng tuyền. Còn phù thũng thì thích ở kinh mạch thuộc Phế Vị.

Các bài mới:

Các bài đã đăng:

 
< Trước   Tiếp >