Trang chủ arrow Đông y khái luận arrow Chương mười lăm - NGỌC BẢN LUẬN YẾU THIÊN
Chương mười lăm - NGỌC BẢN LUẬN YẾU THIÊN
22/09/2018
KINH VĂN

  Hoàng Đế hỏi rằng:

 - Tôi nghe ở thiên Quỹ đạc, Kỳ hằng, nói về bệnh ý nghĩa, phương pháp không giống nhau, vậy phương pháp dùng thế nào?

 Kỳ Bá thưa rằng:

 - “Quỹ đạc” là một phương pháp đo lường xem bệnh nông hay sâu, “Kỳ hằng” là nói về các chứng bệnh khác thường. Hãy xin nói về “chí, số”: Phàm mạch biến về năm sắc, sự đo lường về những bệnh khác thường, “kinh” dù khác mà “đạo” thì có “một”. “Một” đó tức là cái “thần” của con người. Khi thần ấy đã có, sẽ vận chuyển tới khắp năm Tàng, không còn bị ngừng trệ. Nếu bị ngừng trệ, tức là không có sự chuyển vận từ trước. Nghĩa đó rất tinh, rất vi, không thể coi thường, mà không chú ý.

 Phàm dung sắc của con người, hiện ra ở bộ phận trên dưới, tả hữu, đều có sự “thích nghi” của nó. Thấy sắc hiện ra có vẻ nông nổi, đó là bệnh chưa vào sâu, nên dùng thang dịch để điều trị, trong vòng 10 ngày, có thể khỏi (tức là hết lượt của 10 can). Thấy sắc hiện ra có vẻ xa sâu, đó là bệnh tà đã vào sâu, phải dùng dược tễ để điều trị, trong vòng 21 ngày có thể khỏi (1). Nếu sắc hiện ra có vẻ thật sâu, đó là bệnh tà đã quá nặng, phải dùng giao lễ để điều trị, trong vòng 100 ngày có thể khỏi. Nếu bệnh nhân sắc mặt trắng bợt, thịt má hốc hác không thể chữa. Nhưng cũng phải quá cái thời hạn 100 ngày, mà mạch đoản, khí tuyệt mới chết.

 Như trên kia đã nói: “dung sắc hiện ra ở bộ phận trên, dưới, tả, hữu… “. Đó là vì, sắc hiện ra ở bộ phận trên tức là cái triệu chứng bệnh thế đương hăng, nên gọi là “nghịch”, thấy sắc hiện ra ở bộ phận dưới, tức là cái triệu chứng bệnh thế đã suy, nên gọi là “thuận”.

 Con gái, sắc hiện ra bên hữu… Con gái thuộc âm, mà bên hữu cũng thuộc âm, như thế là “độc âm” nên gọi là “nghịch”; nếu hiên ra ở bên tả, là dương đã hòa với âm, tức là “thuận”. Con trai sắc hiện ra bên tả… Con trai thuộc dương, mà bên tả cũng thuộc dương, như thế là “độc dương”, nên gọi là “nghịch”; nếu hiện ra ở bên hữu, là âm đã hòa với dương, tức là “thuận”. Lại như: con trai mà sắc hiện ra bên tả, thế là “trùng dương” nên là bệnh chết; con gái mà sắc hiện ra bên hữu, thế là “trùng âm” cũng là bệnh chết. Đó là âm dương tương phản mà gây nên bệnh. Phương pháp điều trị, cần phải xét ở mạch xem phù hay trầm, như cán cân không để cho sai lệch… Đó là quy tắc của các thiên “Kỳ hằng” và “Quỹ đạc” vậy.

***

 Phàm án vào mạch, thấy mạch bật mạnh lên tay, đó là mạch trạng của chứng tý (tay đau và tê), chứng liệt (chân đau và tê), chứng lúc hàn, lúc nhiệt. Mạch hiện ra, chỉ có âm mà không có dương, hoặc chỉ có dương mà không có âm, gọi là mạch “cô”. Có âm mà không có dương là mạch trạng của chứng vệ khí tiêu mòn; có dương mà không có âm là mạch trạng của chứng vinh khí tiêu mòn. Mạch hư mà lại kiêm có chứng tiết (tả), đó là vì đoạt huyết (mất huyết). Bởi huyết thuộc về âm loại, chứng “tiết” dù không phải huyết (mất huyết), nhưng huyết do đó mà hư, nên mới gọi là “đoạt huyết”.

 Mạch “cô” thuộc về tính trạng thiên thắng, nên mới gọi là “nghịch”; nếu chỉ “hư”, còn có thể bổ, nên mới gọi là “thuận”.

 Phàm muốn thi hành cái phương pháp của thiên Kỳ hằng, phải từ Thái âm trước. Bởi khí khẩu thuộc Thốn có thể quyết được sống hay chết. Nên phải chú ý vào đó.

 Ở ngũ hành, phàm cái gì khắc lại mình, gọi là “sở bất thắng”; nếu làm theo “sở bất thắng”, tức là nghịch, nghịch thời chết (2).

 Ở ngũ hành, phàm cái gì mình khắc lại được, gọi là “sở thắng”; nếu làm theo “sở thắng”, tức là thuận, thuận thì sống (3).

 Cho nên tám gió và bốn mùa, hoặc làm theo “sở bất thắng”, hoặc làm theo “sở thắng”, đều hết rồi lại bắt đầu. Nếu qua một lần “nghịch hành”, thì tức là “hành sở bất thắng”, bệnh tất chết, không chối được nữa.

Tin liên quan

Các bài mới:

Các bài đã đăng:

 
Tiếp >