Trang chủ arrow Bài viết arrow Y âm án -. Bệnh án chữa chứng hư lao
Y âm án -. Bệnh án chữa chứng hư lao
25/01/2018
Một Hiệu sinh họ Trần xã Phúc Hoàn huyện Hưng Nguyên mới 16 tuổi, học giỏi tài cao nhiều người biết tiếng, mắc bệnh lao do mẹ truyền nhiễm, đã vài năm nay, nhiều thầy chữa cũng không công hiệu, ngày càng nguy khốn, ông thân sinh đưa thuyền đến Hương Sơn mời tôi chữa. Nguyên trước ông này với tôi có quen biết nhau, nghĩ tới lời lẽ thiết tha, không đi không được. Đêm hôm đó canh tư ra thuyền, vừa lúc giăng sáng ra đi. Lúc này bầu giời im lặng mây trôi giăng tỏ lạnh ngắt lòng sông, tôi ngồi ở mũi thuyền hào hứng chứa chan, khề khà vài chén, ngâm vịnh mấy câu, để thêm vui cảnh giăng thanh gió mát:

Chiều giời êm sóng gió, ven đê sương lạnh lùng.
Mầu cây liền mây núi, chuông chùa lắng giăng sông.
Bến Tam soa mờ tỏ, núi Thiên nhẫn chập chừng.
Thú vui thơ với rượu, ngoài đời dễ mấy ông.

 Đến chiều tối mới tới nhà, khi tôi xem mạch, thấy hai bộ thốn phù sác vô luân, tản mạn không rõ; bộ hữu quan vô lực, hai bộ xích lại rất vi, mình nóng chân tay lạnh, bụng đầy, tiết tả, đờm dãi nhiều nhổ không kịp. Tôi nghĩ: Chứng hư lao là vì tinh huyết suy kém, âm hư mà nóng, nay lại chân lanh, bụng đầy, tiết tả, cái cớ vong dương đã rõ, hai bộ thốn tán sác là âm hư đến cực độ, bộ hữu quan vô lực là trung khí cũng hư, 2 bộ xích vô căn, là âm dương đều hư cả. Người ta sinh ra là bẩm thụ ở hai khí âm dương, âm dương nên thăng bằng không nên thiên lệch, lệch thì bệnh, bệnh thì chết. Nếu lúc này âm dương ly thoát, thì phải trước bổ rồi sau tiếp, tiếp rồi sau bổ, để cho âm dương trở lại thăng bằng bình thường thì mới được, nếu cả hai cùng hai cực độ, cho uống dương dược thì nóng đốt âm cháy sém càng dữ; cho uống âm dược thì dập tắt dương, hoạt thoát càng thêm, tình thế còn lờ mờ, dùng thuốc khó mà vẹn toàn. Trong sách có câu: "Thổ vượng thì sinh kim, đừng khu khu về giữ Phế, thủy mạnh thì hỏa tắt, chớ chăm chăm ở thanh Tâm", đó chỉ là cách chữa khi bệnh chưa nặng lắm. Nay chứng đã hiện ra, ngoài thì da nóng như đốt, ho nhổ đờm dãi, mình gầy như củi khô; trong thì hơi thở ngắn, không ăn được, đại tiện đi hoạt, chân lạnh bụng đầy, lúc này muốn bổ thổ thì khô khan khó chịu, muốn tráng thủy thì tả lợi khôn cầm, thực là kinh nóng sợ lạnh mà phải bó tay, người xưa nói: "Âm hư khó bổ" chính là lẽ đó.

 Tôi liền hết sức suy nghĩ, chế ra hai phương thuốc như tễ cứu dương thì dùng 3 lạng Bạch truật (sao hoàng thổ) làm quân, Thục địa 1 lạng (sao khô vì có đầy trệ) làm thần; tễ cứu âm thì dùng 3 lạng Thục địa làm quân, Bạch truật 1 lạng (sao sữa) làm thần, thông dụng Nhân sâm (1 lạng 5 đồng cân) là huyết dược ở trong khí, đi với khí dược thì bổ khí, đi với huyết dược thì bổ huyết để làm tá, phân phối cho hai phương lại dùng Bạch thược 2 đồng cân tẩm đồng tiện sao đen để liễm âm làm cho hỏa tự giáng để làm tá cho âm phương; dùng Chích thảo 4 đồng vào Tỳ giúp sức cho Sâm truật để giữ gìn trung khí, làm tá cho dương phương; Bào khương 1 đồng có thể dẫn huyết dược vào huyết phận, khí dược vào khí phận, vẫn dùng làm sứ cho âm phương, Phụ tử 1,5 đồng làm thần cho Sâm truật thì bổ khí làm thần, Thục địa thì chỉ có khả năng dẫn hỏa vào phần âm, nên dùng làm hướng dẫn cho dương phương. Như vậy thì dùng âm không bỏ mất dương, dùng dương không bỏ mất âm, trong bổ có thể tiếp, trong tiếp có thể bổ, để làm cho dương có sức sinh ra âm, âm có công  hóa ra dương, khô nhuận không chênh lệch, âm dương khí huyết có tác dung lẫn cho nhau, tựa hồ không trở ngại gì. Chỉ dựa vào chỗ âm dương thiên lệch, sớm chiều thêm bớt mà dùng trong khoảng một tuần thì các chứng dần khỏi ăn uống thêm lên.

 Tôi vì ở quê có việc  không thể ở lại lâu được, nhà này cũng không dám cố giữ, liền chuẩn bị một chiếc thuyền chở bệnh nhân theo về chỗ tôi uống thuốc. tôi mượn một cái nhà ở hàng xóm cho bệnh nhân ở, ngày đêm coi sóc thuốc thang, dùng những bài Bát vị hoàn, Quy tỳ thang, cao Tuấn bổ tinh huyết, Ngũ tạng quân tử cao, hoặc bổ dương tiếp âm, hoặc bổ âm tiếp dương, phàm những phẩm chất bổ hữu tình cho tinh huyết đều chú trọng hơn, càng ngày càng mạnh. Vừa hơn hai tuần, lại thấy tinh thần ngày sút, các chứng lại phát ra, khi tôi tới xem, viên Hiệu sinh ứa nước mắt xin cứu, than phiền nỗi cha già con dại, tôi nói: "Thầy là người trong phái văn học, tài hạnh đáng tiếc, tôi đêm ngày đem hết những cái bí tàng, đốc hết tâm lực, đổi phương hợp pháp, dùng pháp làm phương, xoay nhiều thứ thuốc, nhưng tình thế không khác gì thuyền lên thác giốc, lên chưa được một thước, lại sụt xuống hơn một trượng! Thầy là người đọc sách há không hiểu lẽ, phàm uống một hớp ăn một miếng, còn nói là có tiền định, huống là tính mạng con người! Thầy Nhan hồi là bậc đại hiền, hưởng thọ không được bao nhiêu, há chẳng phải số mạng là gì? Trong kinh Phật có câu: "Thân mình còn không giữ được, vợ con còn tiếc làm gì" đó thực là lẽ rất đúng của Đạo phật. Lúc đó viên Hiệu sinh nghe nói ngậm ngùi nức nở khôn xiết, tôi liền thuê một chiếc thuyền cho chở gấp về nhà, được trông thấy vợ con, hơn một tuần thì chết.

 Bệnh này tuy là một trong bốn chứng khó chữa của trăm thứ bệnh, nhưng tôi thấy người này tài học gồm đủ, tình nghĩa đáng thương, không nỡ bỏ ngay, muốn hết sức người để mong xoay chuyển hóa cơ, nhưng rút cục vẫn không như ý muốn, hoặc là lòng tuy hết mà thuốc chưa kịp bệnh chăng? Xin kể hết đầu đuôi để làm tấm gương cho sau này.

Các bài mới:

Các bài đã đăng:

 
Tiếp >