Trang chủ arrow Châm cứu án ma arrow Quyển thứ mười hai 78. Bàn về 9 loại kim (Cửu châm luận)
Quyển thứ mười hai 78. Bàn về 9 loại kim (Cửu châm luận)
30/11/2017
Nội dung: Nói về hình dáng, tính năng khác nhau của 9 loại kim và nêu chỉ định trong điều trị của chúng, từ quan điểm trời đất tương ứng, dùng các hình tượng nói lên quan hệ giữa người và tự nhiên. Nêu rõ trong điều trị cần dựa cả vào bệnh tình lẫn hoàn cảnh sinh sống, để dùng cả châm, cứu, đạo dẫn, biếm thạch lẫn thuốc ngọt, xoa bóp, uống rượu mới mong đạt kết quả tốt. Và cũng cần dựa vào công năng, thuộc tính của ngũ tạng và quan hệ tương đối về Âm Dương của thân thể, quy luật phát bệnh của Âm Dương, khí huyết để thuyết minh rõ khi chữa bệnh bằng châm cần kết hợp với các mặt tạng phủ Âm Dương.

Hoàng đế: Nguyên lý của 9 loại kim từ đâu mà có, tại sao lại có tên khác nhau?

Kỳ bá: 9 loại kim là con số lớn của đất trời. Con số bắt đầu bằng 1 kết thúc bằng 9 (mỗi loại kim đều kết hợp với hiện tượng tự nhiên). Kim thứ nhất lấy phép của trời, kim thứ hai lấy phép của đất, kim thứ ba lấy phép của người, kim thứ tư lấy phép của thời (bốn mùa), kim thứ  năm lấy phép của ngũ âm, kim thứ sáu lấy phép của (6) luật, kim thứ bẩy lấy phép ở thất tinh (7) sao, kim thứ tám lấy phép ở (tám) phong (8 gió). kim thứ chín lấy phép ở đồng ruộng (của 9 châu).

Hoàng đế: Kim ứng với 9 con số như thế nào?

Kỳ Bá: Người tài giỏi đã lập ra cách đếm số để nói lên sự biến hóa của trời đất, lấy từ số 1 đến số 9 (là các số cơ bản) làm căn cứ để phân châu. 9 nhân với 9 bằng 81, rồi lại sáng tạo số Hoàng chung (là 1 trong 12 luật, trong 5 âm cung, thương, giác, trưng, vũ, cung thuộc trung ương Hoàng chung, 12 luật của ngũ âm bắt đầu từ phần đó. Cảnh Nhạc viết: Hoàng chung là gốc của vạn vật) để kim châm và con số ứng với nhau, đó là nguồn gốc của 9 loại kim ứng với 9 con số.

- Loại thứ nhất (Sàm châm) ví như trời. Trời ở trên là Dương, tạng ứng với trời là Phế, vì Phế là tạng cao nhất, là cái lọng che hết cả 5 tạng 6 phủ (che cả vạn vật, phế khí nhẹ và hư nên ví như trời). Da là hợp của Phế, cũng là phần dương (biểu nông nhất) của cơ thể. Để chữa loại bệnh nông này, kim phải có đầu to, mũi nhọn sắc (như mũi tên) để nó chỉ châm nông ở da mà không đi sâu trong cơ để làm khí dương xuất ra ngoài da.

 - Loại thứ hai (Viên châm) ví như Thổ. Bắp thịt của cơ thể ứng với Thổ, để chữa bệnh ở bắp thịt, kim phải có thân tròn dài như trụ, mũi kim hình ô van như trứng (để xoa bóp) để nó không làm tổn thương bắp thịt (sơ tiết khí huyết ở trong bắp thịt) nếu bắp thịt bị thương thì sẽ làm khí (của Tỳ suy) kiệt.

- Loại thứ ba (Đề châm) ví như người. Do trưởng thành sự sống của người phải nhờ vào tuần hoàn của huyết mạch, nên châm bệnh của huyết mạch, kim phải có thân tương đối to, mũi kim tròn hơi nhọn làm nó có thể xoa bóp mạch lạc mà không gây nên xuyên qua da vào cơ, để lưu thông khí của nó, để (cho chính khí đầy đủ và ) chỉ đuổi tà khí ra thôi.

 - Loại thứ tư (Phong châm) ví như 4 mùa, 4 mùa có nghĩa là: tà phong của 8 phương trong 4 mùa khi xâm nhập vào kinh mạch, đều gây nên bệnh ngoan cố, cho nên để chữa bệnh này, kim cần thân hình trụ, mũi sắc nhọn để tả nhiệt, làm ra máu và hết bệnh ngoan cố.

 - Loại thứ năm (Phi châm) ví như âm thanh. 5 số của âm (ở giữa hai số 1 và 9 trong 9 cung, số 1 đại biểu Đông chí và Tý, số 9 đại biểu Hạ chí và Ngọ) số 5 ở giữa là ở giữa Đông Hè và giữa Tý Ngọ. Như Âm Dương của người chia hai đầu, hàn và nhiệt không duy trì bình thường mà đánh nhau ở một chỗ và hợp lại thành nhọt mủ. Chữa loại bệnh này, dùng loại kim có mũi nhọn như mũi kiếm để tháo mủ ra.

 - Loại thứ sáu (Viên lợi châm) ví như (6) luật. (6) luật (cao thấp có tiết tấu) điều hòa Âm Dương 4 mùa, và phối hợp với 12 kinh mạch. (Nếu khí huyết Âm Dương không điều hòa là 6 luật không điều hòa). Hư tà sẽ thừa hư vào kinh lạc và gây chứng tý cấp (Bạo tý). Để chữa loại bệnh này, kim cần nhọn như đuôi ngựa, tròn mà sắc, giữa thân kim hơi to để chữa bạo khí (chứng cấp).

 - Loại thứ bẩy (Hào châm) ví như (7) ngôi sao. 7 ngôi sao ở trên trời như 7 khiếu ở phần trên của người. Ngoại tà vào trong kinh sẽ sinh thống tý, và bệnh ở trong kinh lạc. Chữa loại bệnh này kim cần mũi nhọn như vòi của muỗi để có thể yên tĩnh đợi khí và vê châm nhẹ. Thân kim nhỏ để lưu kim lâu, làm cho khí chính đầy đủ, chân khí và tà khí đều bị ảnh hưởng của châm, khi rút kim có thể tán tà dưỡng chân được.

 - Loại thứ tám (Trường châm) ví như (tám) phong, ví như 8 khớp chân tay, 8 tiết khí trời của 4 quý đều có hư phong, thành ra 8 phong đều gây bệnh và đều nằm ở giữa khớp xương sống lưng và tấu lý mà thành chứng tý ở sâu. Chữa loại bệnh này, kim cần dài, mũi nhọn để vào đuổi tà ở sâu, tý ở sâu (viễn tà, viễn tý).

 - Loại thứ 9 (Đại châm) ví như (9 vùng) đồng ruộng, ở người nó là các khe khớp và dưới da. Tà khí vào sâu, chẩy tràn ra trong người như kiểu phong thủy, nước không qua khớp và tích lại ở khớp thành thành bệnh. Để chữa bệnh này kim cần nhọn như cây trượng (của người già) mũi kim hơi tròn, để lấy cái khí (nước tích) không qua được khớp ra.

Hoàng đế: Độ dài ngắn của các loại kim?

Kỳ Bá: Loại thứ nhất (nhọn) Sàm châm, giống như kim dệt, mũi kim nhọn như mũi tên, trừ mũi kim ra còn dài 1,5 tấc, cộng 1,6 tấc, chữa bệnh nóng ở đầu, thân (châm nông ở da để tả nhiệt). Loại kim thứ hai Viên châm, mô phỏng theo kim dệt sợi bông, thân kim hình ống dài, mũi kim hình (ô van) như quả trứng, dài 1,6 tấc (để xoa bóp) để chữa bệnh do tà lưu ở giữa các bó cơ. Loại kim thứ ba Đề châm, giống như hạt dẻ tròn mà hơi nhọn, dài 3,5 tấc, để xoa bóp kinh mạch, lưu thông khí huyết, làm tà khí tiết ra ngoài. Loại thứ tư Phong châm, cũng mô phỏng theo kim dệt sợi bông, thân hình ống dài, mũi kim sắc nhọn, dài 1,6 tấc, chữa nhiệt độc hay ung nhọt, để chích (lạc) nặn máu. Loại thứ năm Phi châm, mô phỏng theo mũi kiếm, rộng 2,5 phân, dài 4 tấc, chữa ung nhọt có mủ và hàn nhiệt không hòa (để chích tháo mủ). Loại kim thứ sáu Viên lợi châm, mô phỏng theo cái đuôi ngựa, mũi kim hơi to, thân kim nhỏ lại, để có thể châm sâu, dài 1,6 tấc, chữa ung nhọt và chứng tý. Loại kim thứ bẩy Hào châm, mô phỏng theo sợi tóc, sợi tơ, dài 1,6 tấc, chữa hàn nhiệt thống tý, khí tà ở lạc. Loại kim thứ tám Trường châm, mô phỏng theo kim kỳ dài 7 tấc, chữa khí tà ở sâu, lâu ngày không khỏi - viễn (cửu) tý. Loại kim thứ chín Đại châm, mô phỏng loại Phong châm, nhưng mũi kim sắc hơi tròn dài 4 tấc, chữa tích nước ở khớp. Đó là độ dài ngắn to nhỏ của 9 loại kim.

Hoàng đế: Dáng người ứng với 9 vùng đồng bằng của tự nhiên như thế nào?

Kỳ Bá: Chân trái ứng với Lập xuân, ngày Mậu dần, Kỷ sửu (do bên trái là dương, Xuân Hạ thuộc dương, dương khí từ dưới lên). Sườn trái ứng với Xuân phân, ngày Ất mão. Tay trái ứng với Lập hạ, ngày Mậu thìn, Kỷ tỵ. Ngực, hầu, họng, đầu mặt ứng với Hạ chí, ngày Bính ngọ. Tay phải ứng với Lập thu (Đông Thu thuộc âm, âm khí từ trên giáng xuống, nên tay phải ứng với Lập thu), ngày Mậu thân, Kỷ mùi. Sườn phải ứng với Thu phân, ngày Tân dậu. Chân phải ứng với Lập xuân, ngày Mậu tuất, Kỷ hợi. Thắt lưng xương vùng khiếu ở dưới ứng với Đông chí, ngày Nhâm tý, 6 phủ, 3 tạng ở dưới cơ hoành (Can, Tỳ, Thận) ứng với trung châu (Trung cung), ngày đại cấm là ngày Thái nhất ở trung cung và các ngày Mậu, Kỷ. Từ 9 vùng trên, có thể đoán nơi ở của 8 chính. Dựa vào các vị trí phải trái trên dưới của 9 cung, nếu thân thể chỗ nào có ung nhọt, sưng, cần chữa rạch tháo mủ thì phải tránh ngày cấm của nó tức ngày ứng với nó.

Giải thích:

 - Phương Đông là mộc, Xuân phân tháng hai âm lịch, tháng Mão, thiên can là Ất mộc, địa chi là Mão mộc, lấy địa chi của tháng làm địa chi của ngày, nên cạnh sườn trái là Xuân phân, ứng ngày Ất mão.

 - Phương Nam là hỏa, Hạ chí vào tháng 5, tháng Ngọ, thiên can là Bính hỏa, địa chi là Ngọ hỏa, đầu mặt cổ là Hạ chí ứng ngày Bính ngọ.

- Phương Tây là kim, Thu phân vào tháng 8, tháng Dậu, thiên can là Tân kim, địa chi là Dậu kim, nên cạnh sườn phải là Thu phân, ứng ngày Tân dậu.

- Phương Bắc là thủy, Đông chí tháng 11, tháng Tý, thiên can là Nhâm thủy, địa chi là Tý thủy, nên thắt lưng xương cũng là Đông chí, ngày Nhâm tý.

 - Bốn góc là giữa hai phương, trung ương, thuộc thổ, nên ngày của 4 góc và trung ương đều là mậu Kỷ và thêm vào địa chi của phương vị của khí hậu.

Ví dụ: 

 - Lập xuân tháng 12, tháng Sửu hoặc tháng giêng, tháng Dần, hướng Đông bắc. Sửu Dần, hai địa chi hợp với Mậu Kỷ - hai thiên can sẽ là ngày của Lập xuân Mậu dần, Kỷ sửu.

 - Lập hạ tháng 3, tháng Thìn, tháng 4 tháng Tỵ, hướng Đông nam. Thìn Tỵ, hai địa chi hợp với Mậu Kỷ - hai thiên can là ngày của Lập hạ (Mậu thìn, Kỷ tỵ).

 - Lập thu tháng 6, tháng Mùi hoặc tháng 7 Thân, tháng Dần, hướng Tây nam. Mùi Thân, hai địa chi hợp với Mậu Kỷ - hai thiên can sẽ là ngày của Lập xuân (Mậu thân, Kỷ mùi).

 - Lập đông tháng 9, tháng Tuất hoặc tháng 10 Hợi, hướng Tây nam, hai địa chi Tuất Hợi hợp với hai thiên can Mậu kỷ là ngày của Lập đông (Mậu tuất, Kỷ hợi).

 Người xưa cho rằng bệnh ở các vị trí ứng với các ngày trên, thì không nên chữa vào ngày đó, nhất là rạch tháo mủ. Ngày nay không nhất thiết phải kiêng.

 - Hình lạc chí khổ (thân thể nhàn hạ trong lòng bị dày vò) bệnh thường ở mạch, khi chữa cần dùng cả châm và cứu. Hình khổ chí lạc (thân thể bị dày vò trong lòng thanh thản) bệnh thường ở cân, chữa cần dùng cứu ôn và đạo dẫn. Hình lạc chí lạc (thân thể nhà hạ, trong lòng thanh thản) bệnh thường ở cơ nhục, chữa cần dùng châm biếm thạch. Thân khổ chí khổ (thân thể bị dầy vò, trong lòng cũng bị dầy vò) bệnh thường ở hầu họng, dùng thuốc ngọt để chữa. Nếu nhiều lần bị khủng khiếp (khí huyết vận hành ở) cân mạch sẽ không thông, bệnh sẽ có cảm giác bất nhân (tê bì) cần dùng xoa bóp và rượu thuốc để chữa (làm thông khí huyết). Đó là những bệnh do thân thể an nhàn lao lực quá gây nên.

 - Khí của ngũ tạng (không điều hòa sẽ sinh bệnh), khí Tâm (không sơ thông) sinh ho khạc, khí Can (uất kết, thì tinh thần bất thường và) sinh nói nhiều, khí Tỳ (vận hóa thất thường thì) nuốt chua, khí Thận (không đủ thì mệt mỏi) thì ngáp.

 Bị chú: Người xưa có lúc đưa bệnh của Vị vào bệnh của Tâm, vì chỉ có Vị khí không giáng mới ợ hơi.

 - Khí của 6 phủ (không điều hòa sẽ sinh bệnh), khí của Đởm (uất dễ) sinh cáu gắt, khí của Vị (không giáng sẽ) nghịch thành nấc, khí của Đại tràng, Tiểu tràng (không chuyển hóa thức ăn được) gây ỉa chảy. Khí của Bàng quang (hư) không khống chế được đi đái, sẽ đái dầm, đái ra quần (di niệu). Tam tiêu không thông đường nước sẽ bị tắc, nước ứ thành phù.

 - Ngũ vị: chua vào Can (mộc) trước, cay vào Phế (kim) trước, đắng vào Tâm (hỏa) trước, ngọt vào Tỳ (thổ) trước, mặn vào Thận (thủy) trước, nhạt vào Vị (thổ) trước. Đó là ngũ vị đi vào các tạng phủ.

 Năm tinh (cùng): Tinh khí cùng với Can thì lo (Ưu), cùng với Tâm thì vui, cùng với Phế thì buồn, cùng với Thận thì khủng, cùng với Tỳ thì lo sợ. Đó là bệnh do tinh khí của 5 tạng (thừa hư) hợp cùng các tạng gây nên.

 (Chú ý: Sự tác động lẫn nhau này diễn ra theo cái chí của mỗi tạng, như tinh khí thừa Tâm, hư hợp với Tâm làm Tâm khí hữu dư gây vui...Nhưng cũng diễn ra theo tương khắc như sinh khí cùng hợp với Tỳ làm Tỳ khí thực, Tỳ thực khắc Thận, Thận chủ kinh khủng nên ở đây Tỳ thực mà lại biểu hiện kinh khủng là chí của Thận).

 - Năm ố (sợ): Can (chủ cân, phong làm co cân) sợ gió. Tâm (chủ huyết mạch, nhiệt cao có thể làm thương mạch) sợ nhiệt. Phế (chủ khí, hàn làm khí không truyền thông) sợ hàn. Thận (chủ thủy, thích nhuận) sợ táo. Tỳ (thuộc thổ thích táo) sợ thấp. Đó là những cái sợ của 5 tạng.

 - Năm chất dịch: Tâm chủ (việc sinh) mồ hôi, Can chủ (việc sinh) nước mắt, Phế chủ (việc sinh) nước mũi, Tỳ chủ (việc sinh) nước dãi, Thận chủ (việc sinh) nước bọt. Đó là 5 chất dịch do các tạng sinh ra (các tạng Phế, Can, Tỳ sinh ra chất dịch của các khiếu của chúng, nước mũi, nước mắt, nước bọt. Còn Tâm có khiếu là lưỡi chủ huyết, thuộc hỏa, hỏa có thể làm ra mồ hôi, nên Tâm chủ việc sinh ra mồ hôi. Thận có khiếu là tai, nhưng mạch Thận lên đến cuống lưỡi, nước bọt ở dưới lưỡi chảy ra nên Thận chủ việc sinh nước bọt.

 - Năm lao (thái quá): Nhìn quá lâu thương huyết, ngồi quá lâu thương bắp thịt, đứng quá lâu thương xương, đi quá nhiều thương cân, nằm quá lâu thương khí.

 - Năm tẩu (hướng đi): Chua đi vào cân (Can), cay đi vào khí (Phế), đắng đi vào huyết (Tâm), mặn đi vào xương (Thận), ngọt đi vào bắp thịt (Tỳ). Đó là năm hướng đi.

 - Năm tiết chế (kiêng): Bệnh ở cân thì không ăn chua. Bệnh ở khí thì không ăn cay. Bệnh ở xương thì không ăn mặn. Bệnh ở huyết thì không ăn đắng. Bệnh ở cơ thì không ăn ngọt. Khi nghiện, thèm ăn các vị trên thì không được ăn nhiều, phải tự tiết chế. Đó là 5 tiết chế.

 - Năm phát (nơi phát bệnh): Bệnh ở (Thận) âm hay phát ra ở xương. Bệnh ở (Tâm) dương hay phát ra ở huyết (mạch). Bệnh ở (Tỳ) âm hay phát ra ở bắp thịt. Bệnh ở (Can) dương (ở mùa Xuân) bắt đầu phát ra từ mùa Đông (mùa Đông bị hàn, mùa Xuân sẽ có bệnh ôn, mùa Hè bị thử, mùa Thu sẽ có sốt rét "Sinh khí thông thiên" - Tố vấn), bệnh (Phế) âm (ở mùa Thu) bắt đầu phát từ mùa Hè.

 - Năm tà (khí): Khí tà vào phần dương (dương thịnh nhiệt cực) thì sinh cuồng. Khí tà vào phần âm (âm thịnh sẽ hàn, huyết bị ngưng trệ) thì sinh huyết tý. Khí tà vào phần dương thì (khí lên không xuống được) sinh bệnh điên (đau đầu, váng đầu, hoa mắt chóng mặt. Tố vấn "Phương thịnh suy": Khí thượng bất hạ, đầu thống điên tật). Khí tà vào phần âm (là dinh khí thiếu) thì gây khản tiếng. (Khí tà từ) Dương vào Âm (bệnh đang rầm rộ chuyển thành) yên tĩnh. (Khí tà từ) Âm chuyển ra Dương, bệnh có biểu hiện vui giận.

 - Năm tàng: Tâm tàng thần, Phế tàng phách, Can tàng hồn, Tỳ tàng ý, Thận tàng tinh, chí (xem chương 8 Bản thần)

 - Năm chủ: Tâm chủ mạch, Phế chủ da, Can chủ cân, Tỳ chủ cơ, Thận chủ cốt.

 - Dương minh nhiều huyết nhiều khí, Thái dương nhiều huyết ít khí, Thiếu dương nhiều khí ít huyết, Thái âm nhiều huyết ít khí, Quyết âm nhiều huyết ít khí, Thiếu âm nhiều khí ít huyết.

 Vì vậy cho nên châm Dương minh có thể xuất huyết, xuất khí, châm Thái dương xuất huyết giữ khí, châm Thiếu dương xuất khí giữ huyết, châm Thái âm xuất huyết giữ khí, châm Quyết âm xuất huyết giữ khí, châm Thiếu âm xuất khí giữ huyết.

 (Thiên "Ngũ âm ngũ vị" - Linh khu và "Huyết khí hình chí" - Tố vấn cũng nói vấn đề này. Thấy thiên "Huyết khí hình chí" - Tố vấn nói đúng hơn. Đó là Thái âm thiểu huyết đa khí, chứ không phải là đa huyết thiểu khí).

 - Dương minh và Thái âm là biểu hiện, Ngẫu dương và Lý là biểu tượng, Thái dương và Chữ Chiếm là biểu hiện, đó là Quan hệ Âm Dương của kinh. Dương Minh and Thái dương là biểu tượng, Thiếu dương và Quyết là giả, Thái dương và Thiếu âm là biểu hiện. That is the Quan Dương of the best Business.

BẢNG TÓM TẮT PHÂN LOẠI THEO 5 TẠNG
 
 
 

Các bài mới:

Các bài đã đăng:

 
< Trước   Tiếp >