Trang chủ arrow Châm cứu án ma arrow 76. Tuần hành của khí bảo vệ (Vệ khí hành)
76. Tuần hành của khí bảo vệ (Vệ khí hành)
19/11/2017

Nội dung: Nói về 50 chu kỳ tuần hoàn trong ngày đêm của khí bảo vệ. Lúc bình minh khi mở mắt ra thì khí bảo vệ từ đầu mắt lên đầu dọc Thái dương tay chân, Thiếu dương tay chân và Dương minh tay chân để đi lên đi xuống. Ở chân nó giao với phần Âm, qua Thiếu âm chân lên mắt. Như vậy mỗi ngày đêm đi 25 chu kỳ. Từ lúc ngủ đến bình minh nó bắt đầu từ kinh Thận và theo tuần tự Thận, Tâm, Phế, Can, Tỳ, rồi về Thận, một đêm đi 25 chu kỳ. Ngày và đêm đi tất cả 50 chu kỳ. Khí bảo vệ là mẹ của 100 bệnh, nó tuần hoàn ở toàn thân và phân ra Âm Dương ngày đêm, theo một quy luật nhất định, nếu châm đúng giờ thì hiệu quả cao hơn. Khi châm cần đợi khí, nếu bệnh ở 3 kinh Dương, thì đợi khí bảo vệ tuần hành đến phần Dương hãy châm, nếu bệnh ở 3 kinh Âm, thì đợi khí bảo vệ tuần hành đến phần Âm hãy châm, để nâng hiệu quả lên, gọi là: "cẩn hậu kỳ thời, bệnh khả dữ thời, thất thời phản hậu, bách bệnh bất trừ".

Hoàng đế: Sự tuần hoàn ra vào (ở Âm Dương biểu lý) của khí bảo vệ như thế nào?

Kỳ Bá: Một năm có 12 tháng, một ngày có 12 giờ, giờ Tý giờ Ngọ (ở Nam Bắc) là đường kinh (thẳng) giờ Mão Dậu (ở Đông Tây) là đường (ngang) vĩ. Vận hành trên trời của 28 sá (sao) là mỗi phương (Đông, Tây, Nam, Bắc) có 7 sá (sao), 4 phương cộng 28 sá (sao). (Từ Đông sang Tây là) từ Phòng sá đến Ngang sá là vĩ (từ Bắc đến Nam là) từ Hư sá sang Sương sá là kinh. Cho nên từ Phòng sá (của phương Đông sang phương Nam) đến Tất sá (của phương Tây gồm 14 sá) thuộc Dương. Từ Ngưỡng sá (của phương Tây qua phương Bắc) đến Tâm sá (của phương Đông, gồm 14 sá) thuộc Âm. Dương là ngày, Âm là đêm. Cho nên khí bảo vệ (tuần hoàn cũng có quy luật như sự vận hành của các thiên thể) trong một ngày đêm tuần hành 50 chu kỳ, ngày 25 chu kỳ ở phần dương, 25 chu kỳ ở phần âm trong các tạng.

Giải thích: 28 sá là từ thiên văn cổ, là nơi các thiên thể quay vòng, chia làm 4 phương Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi phương có 7 sá tức 7 sao. Đông có: Giác, Cung, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ. Bắc có: Đẩu, Ngưu, nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích. Tây có: Khuê, Lâu, Vị, Ngang, Tất, Chủy, Sâm. Nam có: Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Chương, Dực, Chẩn. Theo 12 địa can, từ Đông qua Nam đến Tây (14 sá) là giờ Thìn, Tỵ, Ngọ, Thân (ban ngày) là Dương, nên "Phòng đến Tất là Dương". Từ Tây qua Bắc đế Đông (14 sá) theo địa chi là Dậu, Tuất, Hợi, Tý, Sửu, Dần (đêm) là Âm, nên "Ngang đến Tâm là Âm".

Từ Ngang đến Tâm là Âm
 
 


Từ Phòng đến Tất là Dương


 - Lúc bình minh là Âm tận. Lúc đó khí bảo vệ (đã đi hết 25 vòng ở tạng và) đi ra ngoài ở đầu mắt. Khi mở mắt, khí bảo vệ lên đầu, qua gáy, xuống Thái dương chân, dọc lưng xuống đến đầu ngón út (chí âm). Các nhánh đi khác của nó, là từ đuôi mắt xuống theo Thái dương tay đến phía ngoài đầu ngón tay út (Thiếu trạch). Từ đuôi mắt dọc theo Thiếu dương chân đến đầu ngón chân 4 (Khiếu âm), phần ở trên dọc theo Thiếu dương tay đến đầu ngón tay nhẫn (Quan xung), nhánh tách lên trước tai hợp ở hãm mạch (giữa Thừa khấp và Giáp xa), đổ vào Dương minh chân đi xuống, đến mu chân vào khoảng giữa các ngón chân (Lệ đoài), nhánh đi khác, từ dưới tai xuống Dương minh tay vào đầu ngón cái (đáng lẽ phải ghi là đầu ngón trỏ) rồi vào trong gan tay. Nhánh theo đường Dương minh chân đến bàn chân, vào gan chân, rồi lên mắt cá trong, đi theo phần Âm rồi lại hợp ở đầu mắt và bắt đầu lại, như vậy là hết một chu kỳ.

 (Ở gan chân lên mắt cá trong là Thiếu âm chân, nhánh của Thiếu âm chân là mạch Kiểu, mạch Kiểu thuộc khóe mắt trong, nên trở về hợp ở đầu mắt - Cảnh Nhạc).

 (Khí bảo vệ vận hành có quy luật, nên) khi mặt trời đi một sá thì khí bảo vệ đi một chu kỳ 8/10 (ngày đêm 28 sá thì có 50 chu kỳ của khí bảo vệ. Vậy vệ khí đi 1 sá thì sẽ là 50:28 = 1,785 chu kỳ), mặt trời đi 2 sá, vệ khí đi 3,6 chu kỳ, mặt trời đi 3 sá, vệ khí đi 5,4 chu kỳ, mặt trời đi 4 sá, vệ khí đi 7,2 chu kỳ, mặt trời đi 5 sá, vệ khí đi 9 chu kỳ, mặt trời đi 6 sá, vệ khí đi 10,8 chu kỳ, mặt trời đi 7 sá, vệ khí đi 12,6 chu kỳ, mặt trời đi 14 sá, vệ khí đi 25,2 chu kỳ (vì đây tính tròn 1,8 nên là 25,2 chu kỳ, đáng ra chỉ có 1.785), (ban ngày vệ khí đi) hết phần dương thì sẽ chuyển vào phần âm (và bắt đầu vào đêm) phần âm tiếp thu khí bảo vệ. Nó bắt đầu từ Thiếu âm chân, đổ vào Thận, từ Thận đổ vào Tâm, từ Tâm đổ vào Phế, từ Phế đổ vào Can, từ Can đổ vào Tỳ, từ Tỳ đổ vào Thận thành một chu kỳ. Cho nên đêm (mặt trời) đi một sá thì vệ khí đi ở trong âm cũng đi 1,8 chu kỳ. Trong một đêm cũng như trong một ngày vệ khí đi 25 chu kỳ ở trong âm và lại hợp lại ở đầu mắt. Ở phần âm, phần dương, một ngày một đêm (vận hành cộng 50 chu kỳ) thêm 0,4; nếu chỉ tính ở phần âm chỉ thêm 0,2 chu kỳ. Số tính có thừa vì người lúc ngủ lúc thức sớm muộn không giống nhau vậy.

Hoàng đế: Khí vệ tuần hành trong người, lúc ở trên lúc ở dưới tùy theo giờ, làm thế nào để đợi khí mà châm được?

Bá Cao: Sự phân độ tuần hành của thiên thể có nhiều có ít, thời gian của ngày có dài có ngắn, bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, ngày đêm có khác nhau theo quy luật 4 mùa. Song thường lấy lúc mặt trời mọc làm chuẩn, lúc đêm tận làm bắt đầu (vệ khí bắt đầu ở phần dương). Trong  1 ngày 1 đêm, đồng hồ nước báo 100 khắc, vậy 25 khắc là thời gian 1/2 ngày, và tuần hành không ngừng như vậy (cho nên ban ngày dài hay ngắn) khi mặt trời lặn là lúc hết ban ngày (dương tận). Thường lấy thời gian dài ngắn của đoạn mặt trời mọc, mặt trời lặn để làm chuẩn (cho Âm Dương ngày và đêm) và tiến hành châm cho đúng lúc. Nếu châm đúng lúc (khí hành), có thể đoán chính xác ngày khỏi bệnh, nếu không nắm đúng thời cơ châm, hoặc vi phạm khí hậu 4 mùa (châm sai), thì không chữa được các bệnh. Cho nên nói: châm chữa chứng thực, cần châm thế đến của nó (đón khí nó đến để đoạt khí làm cho nó hư đi), châm chữa chứng hư, cần châm thế đi của nó (theo thế đi của nó để bổ xung cho nó). Nghĩa là khí cảm ứng với châm còn hay mất, cần phân biệt rõ trạng thái hư thực để châm cho thích hợp. Đợi khí đến để châm đúng lúc là gập thời (nghĩa là) bệnh ở 3 kinh dương, cần đợi khi khí đến phần dương mới châm.

 - Đồng hồ nước điểm 1 khắc, vệ khí ở Thái dương (tay chân). Điểm 2 khắc, vệ khí ở Thiếu dương (tay chân). Điểm 3 khắc, vệ khí ở Dương minh (chân tay). Điểm 4 khắc, vệ khí vào phần âm (Thiếu âm chân). Điểm 5 khắc, vệ khí ở Thái dương (tay chân). Điểm 7 khắc, vệ khí ở Dương minh (tay chân). Điểm 8 khắc, vệ khí vào phần âm (Thiếu âm chân). Điểm 9 khắc, vệ khí ở Thái dương (tay chân). Điểm 10 khắc, vệ khí ở Thiếu dương (tay chân). Điểm 11 khắc, ở Dương minh (tay chân). Điểm 12 khắc vào phần âm (Thiếu âm chân). Điểm 13 khắc, vệ khí ở Thái dương (tay chân). Điểm 14 khắc vệ khí ở Thiếu dương (tay chân). Điểm 15 khắc, vệ khí ở Dương minh (tay chân). Điểm 16 khắc, vệ khí vào phần âm (Thiếu âm chân). Điểm 17 khắc, vệ khí ở Thái dương (tay chân). Điểm 18 khắc, vệ khí ở Thiếu dương (tay chân). Điểm 19 khắc, vệ khí ở Dương minh (chân tay). Điểm 20 khắc vệ khí vào phần âm (Thiếu âm chân). Điểm 21 khắc vệ khí ở Thái dương (tay chân). Điểm 22 khắc vệ khí ở Thiếu dương (tay chân). Điểm 23 khắc vệ khí ở Dương minh (tay chân). Điểm 24 khắc vệ khí vào phần âm (Thiếu âm chân). Điểm 25 khắc, vệ khí ở Thái dương (tay chân). Đó là tình hình tuần hoàn của vệ khí trong 1/2 ngày. Từ Phòng sá đến Tất sá có 14 sá, đồng hồ nước điểm 50 khắc, ngày đi được 1/2 thời gian và 1/2 đường. Mỗi lúc mặt trời lặn đi được 1 sá, cần phải dùng thời gian 3 khắc 4/7 (100 khắc/28 = 3,5714 khắc). Trong thiên Đại yếu có viết: thường mặt trời đi 1 sá trong 28 sá, vệ khí (bắt đầu đi) ở Thái dương (tay chân). Cho nên, quá trình mặt trời đi 1 sá, vệ khí đi hết 3 kinh dương và vào phần âm (Thiếu âm chân), vận hành như vậy không ngừng, cùng quy luật với biến hóa của tự nhiên. Tuy rất phức tạp, nhưng vẫn có một mối không rối loạn là đi hết thì bắt đầu đi lại và qua một ngày đêm 100 khắc, vệ khí hoàn thành quá trình tuần hoàn 50 chu kỳ toàn thân của mình.


Tin liên quan

Các bài mới:

Các bài đã đăng:

 
< Trước   Tiếp >