Trang chủ arrow Châm cứu án ma arrow 75. Thích tiết chân tà
75. Thích tiết chân tà
18/11/2017
Nội dung: Nói về bệnh của 5 tiết và cách châm 5 tiết (Trấn ai, Phát mông, Khứ trảo, Triệt y, Giải hoặc). Tác dụng của 5 tà (Trì ung, Dung đai, Giáp tiểu, Hàn, Nhiệt) và cách châm 5 tà. Từ quá trình dẫn truyền của bệnh tà khi vào cơ thể, nói lên nguồn gốc và công năng của chân khí. Phân tích rõ tà khí, chính khí, và quan hệ giữa bệnh với chân khí, chính khí, tà khí. Dẫn chứng khi kinh mạch bị bệnh, chính khí không thắng được tà khí, tà khí lưu lại và gây các chứng đau, ung, sốt rét, ngứa, tý, tê, cốt tý, co quắp, liệt 1/2 người, dò xương, cân lưu, trường lưu, cốt thư, nhục thư vv...Để nói nên chúng có quan hệ với sự mạnh yếu của tác nhân bên ngoài, sự thịnh suy của chân khí trong người với các triệu chứng khác nhau và vị trí bệnh cũng khác. Nhưng không ngoài: Chân khí quá suy, khí tà quá thắng.

Hoàng đế: Cách châm có 5 tiết, nội dung của chúng là gì?

Kỳ Bá: Đó là Trấn ai, Phát mông, Khứ trảo, Triệt y, Giải hoặc. Cách châm Trấn ai là châm phần kinh mạch ở biểu nông để chữa bệnh dương (phần vào tạng phủ kinh mạch ở sâu - lý). Cách châm Phát mông là châm huyệt du của các phủ để chữa bệnh ở 6 phủ. Cách châm Khứ chảo là châm khớp và lạc, nhánh của lạc. Cách châm Triệt y là châm các huyệt có tác dụng kỳ diệu (kỳ huyệt) ở phần dương. Cách châm Giải hoặc là biết điều hòa Âm Dương, bổ hư tả thực, làm cho hư thực thay đổi chỗ cho nhau để lấy lại trạng thái cân bằng.

Hoàng đế: Châm Trấn ai là châm phần kinh mạch ở nông để chữa bệnh Dương là thế nào?

Kỳ Bá: Cách châm Trấn ai, khí dương đại nghịch, nên đầy ở ngực, làm cho ngực rất bồn chồn, sôi sục và thở co vai rụt cổ hoặc đại khí (tông khí) nghịch lên làm ngồi phục để thở (lên cơn hen), sợ khói bụi, hầu họng như bị tắc không thở được. Nói Trấn ai là nói tác dụng của cách châm này nhanh như phủi bụi vậy.

Hoàng đế: Cần lấy huyệt gì?

Kỳ Bá: Lấy Thiên dung (Thái dương tay), huyệt để chữa hầu tý, tắc họng, nấc, ho.

Hoàng đế: Khi ho rũ rưỡi, người co lại, ngực đau thì lấy huyệt gì?

Kỳ Bá:Lấy Liêm tuyền (mạch Nhâm), chữa lưỡi rụt, lưỡi mềm, chảy nước bọt, nuốt khó, ho.

Hoàng đế: Cách châm hai huyệt đó như thế nào?

Kỳ Bá: Châm Thiên dung, thời gian lưu kim không dài quá người đi bộ 1 lý đường, châm Liêm tuyền, nếu mặt biến sắc thì thôi châm.

Hoàng đế: Tốt.

- Ý nghĩa cách châm Phát mông là gì? khi dùng nó để chữa người điếc, người mù thì dùng huyệt gì trong các huyệt du của phủ ở các kinh dương để chữa bệnh của phủ? xin nói rõ.

Kỳ Bá: Tác dụng của cách châm Phát mông rất nhanh như thần minh, nhanh không lường được. Châm để chữa mắt không nhìn thấy, tai không nghe thấy thì phải châm vào giữa trưa các huyết Thính cung (Tiểu trường) làm cho cảm giác đắc khí theo đường kinh vào đến con ngươi rồi còn phải làm cho tai nghe thấy âm thanh.

Hoàng đế: Nghe được âm thanh là thế nào?

Kỳ Bá: Khi mũi kim vừa châm vào, ta dặn bệnh nhân dùng tay bịt kín 2 lỗ mũi, đồng thời ngậm kín miệng lại, ngăn được tiếng nói, kết quả sẽ ứng với mũi kim châm, tai sẽ nghe được âm thanh. Làm được kỹ thuật này là đạt trình độ "thần minh" đó.

Hoàng đế: Cách châm Khứ chảo là châm khớp và lạc nhánh. Xin nói rõ thêm.

Kỳ Bá: Thắt lưng và cột sống là xương quan tiết lớn nhất trong thân thể, thân và cẳng chân là then chốt của việc đi đứng của con người. Âm khí (Dương vật) là cơ năng quan trọng ở giữa thân, là nơi biểu hiện của sự giao cấu, xuất tinh, là con đường vận hành của tân dịch. Cho nên ăn uống thất thường, vui giận quá độ, tân dịch trào vào trong và chảy lưu ở bìu dái, huyết đạo (Giáp ất kinh, Nội kinh, Thái tố ghi là đường nước) không thông (ở đây hiểu là đường nước) bìu dái to dần, làm các khớp vận động kém, cúi người khó khăn, đi lại không thuận lợi. Bệnh do nước ngưng tụ ở trong, khí đi lên cũng không được, tiểu tiện xuống cũng không được. Dùng Phi châm, hoặc Biếm thạch để lấy nước ra, đó là cách chữa Khứ chảo nghĩa là cắt bỏ phần móng thừa ra ngoài, ở đây là lấy đi phần nước không có đường ra.

Hoàng đế: Xin nói rõ về cách châm Triệt y là châm các huyệt có tác dụng tốt các phần dương, không có vị trí nhất định.

Kỳ Bá: Đó là khí dương (của phủ, tà) có thừa, khí âm của (tạng, chân khí) bất túc. Khí Âm bất túc thì sinh nhiệt ở bên trong, khí Dương thừa thì nhiệt ở bên ngoài, nhiệt và tà ở trong đánh nhau, như trong lòng có than lửa vậy, ngoài nóng lắm sợ đắp thêm vào người, sợ mặc quần áo, sợ cả nằm chiếu, sợ cả người đến gần. Tấu lý lại đóng mồ hôi không ra được, nhiệt chứng làm môi khô lưỡi rộp, thịt khô, họng táo, rất khát nên ăn uống bất kể thứ tốt xấu gì để giải cái khát. Lúc đó chữa bằng huyệt Thiên phủ (Thái âm tay) Đại trữ (Thái dương bàng quang) [Thiên phủ chữa bạo đơn nội nghịch, Can Phế tương bác, huyết dật tỵ khẩu, Đại trữ chữa sốt rét, thương hàn hãn bất xuất, ngực có uất, sốt) châm mỗi huyệt 3 lần, rồi châm Trung lữ du (kinh Bàng quang) chữa kinh giật, hàn nhiệt, uốn ván] để khử nhiệt, bổ Thái âm tay chân [Tỳ chủ cốc khí, Phế chủ khí (trời) hai khí âm này thiếu, thì dương sẽ thừa thắng, khí âm không tiết thì thành bệnh nhiệt, nên phải tả dương thịnh, bổ 2 âm, dương khứ, 2 âm thực, khí âm thông) cho ra mồ hôi, khi nhiệt đã thoái hư, mồ hôi giảm dần bệnh sẽ khỏi, hiệu quả rất nhanh như cởi áo (Triệt y) vậy.

Hoàng đế: Cách châm Giải hoặc, là phải biết tường tận tác dụng điều hòa Âm Dương, tả thực, bổ hư, làm thực hư thế vị nhau, như vậy làm thế nào để giải được mê hoặc?

Kỳ Bá: Người bị đại phong tà, huyết mạch tất có hiện tượng thiên hư, hư tức là thiếu, thực là thừa, tứ chi thiên nhẹ, thiên nặng không co duỗi được, thân thể khó xoay trở, nằm phủ phục, có thể (mất tri giác) không phân biệt được Đông, Tây, Nam, Bắc, triệu chứng thì lúc ở trên, lúc ở dưới, biến hóa nhiều, nặng thì làm người ta điên đảo cả lên. Khi chữa chủ yếu tả cái thừa, bổ cái thiếu, làm cho Âm Dương được bình phục. Hiệu quả của cách châm này nhanh như là giải trừ sự mê muội của người ta vậy.

Hoàng đế: Thế nào là 5 khí tà?

Kỳ Bá:

1. Bệnh phù thũng do khí úng trệ.

2. Bệnh đại tà (ở giữa cơ phu).

3. Bệnh tiểu tà (chính khí hư).

4. Bệnh có nhiệt.

5. Bệnh có hàn.

Hoàng đế: Châm chữa 5 tà như thế nào?

Kỳ Bá: Châm chữa 5 bệnh khí tà, chủ yếu là 5 chương (5 điểm):

 * Đơn nhiệt thì tiêu diệt, thũng tích thì làm tiêu tán, tý hàn thì làm ấm (để hành khí huyết), tiểu tà (chính hư) thì bổ dương khí, bệnh đại tà thì phải trừ khử. Thao tác cụ thể như sau:

- Châm tà úng trệ (khi nó đang vượng) thì không nên tả mà phải làm (từ từ) hư, thay đổi tập quán. Khi chưa làm mủ thì xoa day chỗ cứng để làm cho nó mềm ra, hoặc đạo dẫn xoa bóp làm khí nó hành, để làm cho khí tà rời chỗ ở, không cho nó cố định ở chỗ dương, có hiện tượng có ứ trệ và có quan hệ với ung độc thì phải tả các huyệt có kinh đó (lấy huyệt theo kinh khi châm đại tà (thực), cần bắt khí tà từ to chuyển thành nhỏ (kinh) nghĩa là dùng phép tả để trừ hiện tượng hữu dư của khí tà là nó từ thực thành hư. (Trong quá trình thao tác), cần công mạnh đúng nơi tà khí lưu thông và nơi có bệnh. Qua cơ nhục quan sát mạch sắc của tà khí, chính khí, không thể (lấy tà nhỏ làm tà to) làm thay đổi bộ mặt thật của bệnh. Tà thực thường ở (3 kinh) kinh dương, nên châm ở giữa các cơ của kinh dương là chính.

- Khi châm tiểu tà (chính khí hư) cần làm cho chính khí tăng dần, bổ cái thiếu để nó chuyển thành đủ, lúc đó khí tà sẽ không gây tác hại được. (Sau khi bổ) phải xem nơi bệnh (hư thực) đón nó nơi ranh giới của khí hành (tả kinh thiên thịnh) như vậy khí chân ở xa gần hoàn toàn có thể phục hồi. Khí tà không có chỗ hở nào để vào người, nên không thể từ ngoài vào để lưu hành ở trong được. Và như vậy khí tà vô hình dung đã tự tiêu tan. Khi chữa châm vào giữa các cơ là chính.

- Khi châm tà nhiệt, phải làm cho khí tà phát ra (để từ nóng sốt chuyển sang mát). Khi tà ra rồi thì không quay lại (sốt) nữa, và không còn bệnh. Khi châm cần khai thông chỗ uất trệ của kinh lạc, mở cửa (lỗ châm) làm khí tà có đường ra, bệnh sẽ khỏi.

- Khi châm tà hàn, phải làm nó nóng dần lên (để hành khí huyết), vê kim từ từ làm cho thần khí ấm, dinh vệ điều hòa, rút kim ra phải bịt lỗ kim, làm khí bổ lưu ở dinh vệ không bị tiết ra, hư thực sẽ được điều hòa, chân khí có thể được củng cố.

Hoàng đế: Dùng các kim gì để chữa bệnh cho 5 tà?

Kỳ Bá: Châm tà úng trệ dùng phi châm, châm đại tà dùng phong châm (ba cạnh), châm tiểu tà dùng viên lợi châm, châm tà nhiệt dùng sàm châm, châm tà hàn dùng hào châm. Dùng phi châm như mũi kiếm để tháo mủ - dùng phong châm để chích nặn máu.

- Thần xin nói về vấn đề ý nghĩa của giải luận: Đây là 1 lập luận nhằm nói về tương ứng với Thiên Địa, về phối hợp với tứ thời, con người cùng tham với Thiên Địa, cho nên con người có thể dựa vào đó để hiểu thế nào là giải kết. Ví dụ: nơi ẩm thấp, có nguồn suối ngầm thì bên trên nó sẽ sinh ra cỏ lau (vi), cỏ bồ. Dựa vào cái lý đó, ta có thể suy để biết quan hệ giữa hình khí của con người nhiều hay ít. Sự biến hóa của Âm Dương được biểu hiện bằng hàn thử. Khi khí trời nóng nhiệt (chưng cất thủy khí) để lên trên hóa thành mưa, đó là khí ở bên trên, vì thế gốc và rễ thường kém thủy phân. Con người khi bị nhiệt chưng cất, cũng sẽ làm cho Dương khí thoát ra ngoài, khiến cho bì phu bị lơi lỏng, làm cho tấu lý khai, huyết khí suy giảm, mồ hôi ra nhiều, làm cho bì phu bị nhuận trơn. Khi khí trời lạnh lẽo sẽ làm cho đất và nước bị lạnh đóng băng. Dương khí của con người bị tiềm phục lại bên trong, bì phu bị bít kín, tấu lý đóng kín, mồ hôi không xuất ra được, huyết khí cứng rắn, cơ nhục cứng và rít sáp. Lúc bấy giờ, kẻ giỏi chèo thuyền trên nước, cũng không thể chèo thuyền trên băng, kẻ giỏi đào đất, cũng không thể đào phá được những lớp băng dưới đất, người khéo dụng châm, cũng không thể trị được chứng tứ chi bị quyết nghịch. Nay nếu huyết mạch ngưng kết đóng cứng lại, sự đi đứng thật khó khăn, không thể nhất thời làm cho mềm dịu trở lại được. Vì vậy, muốn đi thuyền thì phải đợi lúc ấm trời, lúc đó băng giá đã tan, nước chảy thì thuyền mới đi được. Ở đất cũng như vậy, lúc đó mới khoan đất được. Ở người cũng vậy (phải khí dương vận hành làm) huyết mạch lưu thông mới dùng châm để chữa được, và chữa quyết nghịch phải dùng ấm nóng để điều hòa kinh mạch, điều hòa những nơi hội của khớp (bàn tay, bàn chân, nách, khuỷu, gáy, cột sống), phải cứu trước, khí ấm đã thông rồi thì huyết mạch sẽ hành. Sau đó xem bệnh tình, nếu huyết trong mạch hoạt lợi, có thể dùng cách châm để bình (vì khí dương ở ngoài nông - làm cho hồi phục), nếu mạch cứng khẩn (là tà thịnh) thì dùng cách công phá để làm tan kết tụ, khi khí quyết nghịch đi xuống thì thôi châm. Cách dựa vào nơi tà tụ lại để châm đuổi nó đi như trên gọi là Giải kết.

* Phạm vi ứng dụng của châm là điều khí. Khí của thức ăn tích ở Vị là nguồn gốc khí dinh dưỡng, khí bảo vệ, hai khí này tuần hoàn theo đường đi của chúng. Tông khí lưu ở khí hải (trong ngực), phần đi xuống thì xuống tận khí giai (Khí xung Túc dương minh vị), phần đi lên thì lên đường thở. Vì vậy nếu quyết nghịch ở chân (do hàn khí) thì tông khí không xuống được, huyết ở trong mạch bị ngưng trệ ở trong (không hành) thì phải dùng lửa (cứu) để điều hòa khí huyết, lúc này không dùng châm.

 Dùng châm phải xem xét trạng thái hư thực của kinh lạc trước, sờ dọc theo kinh, day ấn da búng huyệt, xem sự ứng động của nó ra sao, sau đó mới dùng cách châm thích đáng để dẫn khí đi xuống. Khí mạch của 6 kinh (tay chân) điều hòa là không có bệnh, nếu có bệnh, cũng dễ tự khỏi. Khi một kinh có trên thực, dưới hư không thông là có khí thịnh ở lạc ngang chèn vào kinh chính, làm cho nó không thông. Muốn chữa phải tả (nhánh lạc ngang) và đây cũng là cách Giải kết.

 - Nếu trên hàn dưới nhiệt (từ thắt lưng trở lên = trên, từ thắt lưng trở xuống = dưới) thì châm kinh Thái dương ở gáy trước (Đại trữ, Thiên trụ - Cảnh Nhạc) lưu kim lâu, châm rồi cứu ở gáy và vai (hai huyệt trên), khi thấy hơi ấm xuống hợp với ở dưới thì thôi châm, đó là cách đẩy phần dưới bằng dùng phần trên của kinh (thôi nhi thượng chi).

 - Nếu trên nhiệt dưới hàn, xem kỹ ở phần dưới của kinh, nếu mạch hư lõm xuống thì bổ mạch đó, làm cho khí dương ở trên đi xuống mới thôi. Đó là cách châm dẫn nhiệt ở trên xuống (dẫn nhi hạ chi).

 - Bệnh mà khắp thân mình sốt cao, nhiệt làm cho cuồng, thấy bậy bạ, nghe bậy bạ, nói bậy bạ, trước hết nên quan sát để thấy và biết được những nơi bệnh thuộc lạc mạch hay kinh mạch của túc Dương minh vị, nếu hư, ta thủ huyệt để châm bổ, nếu như có huyết lạc thực thì ta thủ huyệt để châm tả loại trừ huyết ứ trệ. Nhân lúc bệnh nhân đang nằm ngửa, người thầy thuốc nên đứng trước đầu của bệnh nhân, dùng 4 ngón tay (2 ngón cái và 2 ngón trỏ) đè lên vùng huyệt Nhân nghinh và Đại nghinh nơi cổ trước của bệnh nhân, giữ yên như vậy cho lâu, chúng ta nên vừa day vừa ấn, kéo dài xuống đến giữa vùng huyệt Khuyết bồn, xong ta lại tiếp tục làm trở lại như cũ, làm cho đến khi nào nhiệt lui thì ngưng. Đây được gọi là phương pháp "Thôi nhi tán chi" (đẩy lui và làm thoát ra vậy).

Hoàng đế: trong một kinh mạch có thể sinh 10 loại chứng bệnh, hoặc đau, hoặc ung, hoặc nóng sốt, hoặc  lạnh, hoặc ngứa, hoặc tý, hoặc tê, hoặc không còn cảm giác, vv...Biến hóa của nó là vô cùng, tại sao?

Kỳ Bá: Đó là do khí tà gây nên.

Hoàng đế: Ta nghe nói khí gồm có chính khí, có chân khí, có tà khí, thế nào là chân khí?

Kỳ Bá: Chân khí là khí tiếp thu của trời hợp với tinh khí của thức ăn để bổ xung toàn thân (chân khí giả, sở thụ ư thiên, dữ cốc khí tịnh nhi sung thân dã) (Cảnh Nhạc: các tên khác của chân khí là nguyên khí, dương khí ở phần dương, âm khí ở phần âm, khí bảo vệ ở biểu, khí dinh dưỡng ở lý, sung khí ở Tỳ, vị khí ở Vị, tông khí ở thượng tiêu, trung khí ở trung tiêu. Khí của nguyên âm nguyên dương ở hạ tiêu). Chính khí (khí hậu bình thường mùa Xuân gió đông, mùa Hạ gió nam) cũng là khí chính phong, nó đến từ 1 phương đúng của thời tiết 4 mùa, nó không phải là thực phong tàn phá ác liệt, cũng không phải là hư phong (mùa Xuân gió nam, Hạ gió đông trái với thời tiết bình thường). Khí tà là hư phong, tấn công kiểu kẻ cướp, tà vào sâu trong người, không thể tự động tiêu đi. Còn chính phong, chính khí vào người thì ở nông, không tiếp xúc với chân khí rồi tự  thì tự tiêu tan, vì sức tấn công yếu không thể thắng nổi chân khí nên bị tiêu tan.

 - Hư tà tấn công cơ thể, có hiện tượng sợ lạnh gai rét, dựng chân lông, mở tấu lý. Khi mà vào sâu, nếu vào xương sẽ thành cốt tý, vào gân sẽ thành co gân, nếu vào mạch sẽ thành ung nhọt do huyết tắc không thông, nếu vào bắp thịt thì đánh nhau với vệ khí, nếu Dương thắng thì nhiệt, Âm thắng thì hàn, hàn thì chân khí bị đuổi đi thành dương hư, lúc đó khí hàn sẽ tụ ở trong da (bì phu chi gian). Nếu khí tà phát ra ngoài, làm mở tấu lý, lay động lông, tà khí đi lại sẽ thành ngứa. Nếu lưu lại sẽ thành tý, nếu vệ khí không hành thì sẽ thành tê dại.

 - Hư tà chỉ ở 1/2 người, khi nó vào sâu dần và lưu ở trong dinh vệ thì làm dinh vệ hơi suy đi, tức là chân khí bị đuổi ra, lúc đó tà khí độc chiếm nên gây 1/2 thân liệt. Nếu tà ở nông, ở biểu, có thể do huyết mạch không hòa nên gây 1/2 người đau.

 - Hư tà vào sâu trong người, hàn tà và khí nhiệt đánh nhau, nếu đóng ở lâu đó, hàn thắng nhiệt thì thì xương đau, cơ khô. Nhiệt thắng hàn thì thịt sẽ mục nát thành mủ, nếu vào đến xương sẽ thành sâu xương (viêm xương). Có bệnh bắt đầu từ gân trước, gân co không duỗi được, nếu tà khí cứ lưu lại không lui, sẽ thành cân lựu (u gân - do khí huyết tích tụ gây nên). Nếu tà khí có chỗ kết, khí nó hướng quy vào trong, khí bảo vệ tại chỗ cũng bị lưu tích ở trong không thể vận hành, làm tân dịch cũng lưu lâu (ở giữa trường vị) tích lại thành trường lựu (u ruột). Còn một loại tích lâu vài năm mới thành hình, mới đầu sờ thấy mềm, biểu hiện đã có tà khí uất kết, lâu ngày khí quy dần vào trong là tân dịch ứ lại không hành, sau đó lại bị tà khí làm tổn thương, làm huyết khí ngưng kết ngày 1 tăng, tích dần lại và thành lựu tích (u mạn tính). Tay sờ thấy cứng, cứng đó là tà khí kết lại đã vào xương, là hiện tượng xương bị tà khí xâm nhập, xương và tà khí kết hợp, nên kết ngày một tăng to và thành cốt thư. Nếu tà khí kết ở bắp thịt, tông khí đi ở trong đến đây và cũng bị lưu kết lại với tà khí, nếu có nóng là thành mủ và nếu chỗ đau không nóng là nhục thư.

 - Trên đây là một số trạng thái bệnh của tà khí, biến hóa không lường được, bệnh phát ra tuy không có vị trí nhất định nhưng đều có một tên bệnh (tông khí là đại khí là khí của Dương minh - Trương Cảnh Nhạc).

Tin liên quan

Các bài mới:

Các bài đã đăng:

 
< Trước   Tiếp >