Trang chủ arrow Châm cứu án ma arrow 71. Tà khí lưu lại ở người (Tà khách)
71. Tà khí lưu lại ở người (Tà khách)
02/11/2017
Nội dung: Nói về mất ngủ do Dương thịnh Âm hư, tà khí nhiễu trong nội tạng. Cách châm cứu là phải tả Dương bổ Âm, điều hòa hư thực, về hai bài (Bán hạ thang, Truật mễ tiễn) có tác dụng chữa mất ngủ tốt. Về đầu ứng với trời, chân ứng với đất, 2 mặt ứng với nhật nguyệt, 9 khiếu ứng với tay chân... về trạng thái tuần hoàn của Thái âm tay, Quyết âm tay, về sự khỏe chắc của Tâm làm tà khí không vào được, và lúc vào được đều ở Tâm bào, về triệu chứng khi tà vào thân thể, và chỉ định, chống chỉ định và thao tác của châm; về 8 nơi hư (2 khuỷu, 2 nách, 2 háng, 2 khoeo là nơi khớp vận động, là nơi chân khí và huyết hội với nhau, nếu tà vào đến đó thì khớp không vận động được mà co quắp lại).

Hoàng đế: Khi tà vào người, khí nào làm cho khi ngủ không nhắm được mắt, lòng không yên và mất ngủ?

Kỳ Bá: Ngũ cốc vào Vị, tiêu hóa rồi chia làm ba: Cặn bã (thải ra), tân dịch (thấm tưới da cơ), tông khí (tụ ở giữa).

- Tông khí tụ ở ngực (từ Phế) lên họng, xuyên thông kinh mạch để thở. Dinh khí tiết tân dịch rồi tưới vào mạch và hóa thành huyết để nuôi tứ chi, vào trong để nuôi 5 tạng 6 phủ, tuần hoàn của nó ứng với thời gian 100 khắc của ngày và đêm. Vệ khí mạnh mẽ, lanh lợi (của thức ăn, uống) mới đầu đi ở giữa da cơ của tứ chi tuần hoàn không ngừng. Ngày nó đi ở phần dương (phủ), đêm nó đi ở phần âm (tạng), thường bắt đầu ở Thiếu âm chân nơi nó và Thái âm chân nối nhau rồi đi vào 5 tạng 6 phủ. Nếu tà khí quyết nghịch lưu ở 5 tạng 6 phủ thì khí vệ một mình bảo vệ ở ngoài, tuần hoàn ở phần dương nên khi khí dương thịnh. Khí dương thịnh thì mạch Dương kiều "hãm" (sách này nói "hãm" nhưng các sách Giáp ất, Nội kinh thái tố đều ghi là "mãn"). Khi vệ khí không thể vào phần âm làm (ngoài thì thừa trong thì thiếu), Âm hư, vì vậy mắt không thể nhắm được khi ngủ.

Hoàng đế: Chữa thế nào?

Kỳ Bá: Bổ cái bất túc (Chiếu hải), tả cái hữu dư (Thân mạch), điều hòa hư thực để thông đường kinh của nó và đuổi tà khí đi. Uống một thang: Bán hạ thang, nếu âm dương mà thông thì sẽ ngủ. Bán hạ thang: Lấy nước sông cái 8 thăng, để lắng trong, lấy 5 thăng, đun to lửa cho chóng sôi, cho truật mễ (gạo nếp) 1 thăng, chế Bán hạ 5 hợp, rồi dùng lửa nhỏ (văn hỏa). Khi nước còn một thăng rưỡi thì bỏ bã, mỗi lần uống một cốc nhỏ, ngày uống 3 lần hoặc hơn đến khi có hiệu quả. Ở người mới mắc bệnh uống xong thì đi ngủ ngay hoặc khi ra mồ hôi là có kết quả. Ở người có bệnh lâu, uống 3 lần là khỏi.

Hoàng đế: Khớp tứ chi, ứng với trời đất như thế nào?

Bá Cao: Dùng cách so sánh theo hình tướng, đầu tròn ứng với trời, bàn chân vuông ứng với đât. Trên trời có mặt trăng, mặt trời, người có hai mắt. Mặt đất có 9 châu, người có 9 khiếu (9 châu = 9 địa phương của tổ quốc - thời gian viết sách). Trời có gió mưa, người có vui giận; trời có sấm sét, người có âm thanh; trời có 4 mùa, người có 4 chi; trời có 5 âm (thanh), người có 5 tạng; trời có 6 luật, người có 6 phủ [6 luật thuộc dương là (những âm giai) Hoàng chung, Thái tộc, Cô tẩy, Nhung tân, Di tắc, Vô sa]; trời có Đông Hạ, người có hàn nhiệt; trời có 10 ngày, người có 10 ngón tay; giờ có 12, người có 10 ngón chân, ở nam có thêm dương vật và tinh hoàn (là 12), ở nữ tuy không đủ 12 nhưng có dạ con nuôi con; trời có Âm Dương, người có vợ chồng; năm có 365 ngày, người có 365 tiết (huyệt chính); đất có núi cao, người có vai gối; đất có khe sâu, người có nách khoeo; đất có 12 kinh thủy, người có 12 kinh mạch; đất có suối mạch, người có vệ khí; đất có cỏ, người có lông; trời có ngày đêm, người có dậy nằm; trời có sao, người có răng; đất có núi nhỏ, người có khớp nhỏ; đất có núi đá, người có xương cao gồ; đất có rừng cây, người có cân mạch; đất có nơi đô hội, người có các bắp thịt; năm có 12 tháng, người có 12 khớp to (mỗi chi 3 khớp); đất có nơi 4 mùa không mọc cỏ, người có người không con. Đó là những điểm người ứng với trời đất.

Hoàng đế: Phép tắc châm, lý luận về tiến châm, ý nghĩa của tả, bổ, nghênh, tùy, cách gõ kim để khai thấu lý như thế nào? Sự uốn khúc của kinh mạch và nơi ra vào của nó, khí của mạch đến đâu thì ra, đến đâu thì hết và dừng, đến chỗ nào thì nhanh lên, đến chỗ nào thì chậm lại, đến đâu thì vào, tình hình 6 phủ tưới cho toàn thân tôi đều muốn biết. Ngoài ra nơi phân ly của kinh mạch, tách Dương để vào Âm, tách Âm để vào Dương, đường tuần hoàn nào phụ trách vấn đề này xin cho rõ.

Kỳ Bá: 

- Mạch Thái âm tay xuất ở đầu ngón tay cái, gập vào trong đi dọc bờ Ngư tế (mô ngón cái) lên đến sau khớp bàn tay, đến Thái uyên, lưu ở đó lên có mạch đập, cong ra ngoài đến dưới khớp bàn tay gấp vào trong, hội ở Ngư tế với các lạc của kinh âm, các mạch hợp lại, khí chảy mạnh mẽ, hoạt lợi, bắt đầu đi ẩn ở dưới mõm xương Ngư tế, gấp ra ngoài, nổi ra ngoài ở cổ tay theo kinh đi lên (Kinh cừ), lên đến mặt trong khuỷu, vào dưới gân to (Xích trạch), lại gấp vào trong đi lên mặt trong cánh tay, vào hố nách, lại gấp vào trong đến Phế. Đó là sự tuần hành gấp khúc nhiều lần của kinh Thái âm tay.

- Mạch Tâm chủ xuất ở đầu ngón tay giữa gấp vào trong, dọc bờ trong ngón giữa đi lên, lưu ở trong gan bàn tay, đi nấp giữa hai xương, gấp ra ngoài đi ra chỗ giữa hai gân, giữa xương và cơ. Khí nó hoạt lợi, đi lên 2 tấc, gấp ra ngoài, đi giữa hai gân lên bờ trong khuỷu tay, vào dưới gân nhỏ, lưu ở chỗ hội của hai xương, đi lên vào trong ngực để vào liên lạc với mạch Tâm.

Hoàng đế: Tại sao mạch Thiếu âm tay không có huyệt?

Kỳ Bá: Thiếu âm là mạch Tâm. Mạch Tâm chủ nhân của 5 tạng 6 phủ, nơi ở của tinh (thần); nếu tạng nó chắc thì tà không thể nào vào được, nếu vào được đến Tâm thì Tâm bị thương, thần sẽ đi và chết. Cho nên cái tà vào Tâm đều phải đến Tâm bào lạc. Tâm bào lạc là mạch của Tâm chủ, nên mạch Tâm không có huyệt [mãi đến Hoàng Phủ Mật (Giáp ất kinh) mới ghi huyệt của kinh Thiếu âm tâm].

Hoàng đế: Kinh Thiếu âm không có huyệt, vậy có bệnh không?

Kỳ Bá: Ở kinh thì có bệnh, còn ở tạng Tâm thì không có bệnh, nên khi chữa chỉ lấy huyệt (Thần môn) ở cổ tay chỗ xương đậu để chữa. Các phần khác của mạch xuất nhập gấp khúc, đi nhanh hay chậm đều giống như tuần hoàn của kinh Thiếu âm tâm chủ. Cho nên nói Thần môn là huyệt du của kinh đó, nếu có bệnh thì lấy để điều hòa lại, tùy khí nó hư hay thực, đi nhanh hay chậm, nếu xung (thịnh) thì tả, nếu suy thì bổ. Chữa như vậy thì sẽ đuổi được tà khí, củng cố được chân khí. Đó là thuận theo sự vận hành tự nhiên của nó để chữa.

Hoàng đế: Cách châm nghênh tùy như thế nào?

Kỳ Bá: Trước hết biết gốc ngọn của 12 kinh, tính hàn nhiệt của da, sự thịnh suy hoạt sáp của mạch. Nếu mạch hoạt thịnh là bệnh ngày một tăng nặng; nếu mạch hư tế là bệnh lâu và đang cố gắng duy trì; nếu mạch to và sáp là thống tý. Nếu Âm Dương như nhất (nội ngoại biểu lý đều có bệnh) thì bệnh khó chữa. Nếu gốc (ngực bụng) ngọn (tứ chi) đều nhiệt (dư tà chưa hết) là bệnh vẫn còn tồn tại. Nếu nhiệt của nó đã suy là bệnh đã suy (tà khí bị đuổi ra). Còn phải xem da ở bên trụ (xương trụ) xem sự mềm chắc của cơ, sự to nhỏ hoạt sáp của mạch, trạng thái hàn, nhiệt, táo, thấp. Cũng phải xem 5 sắc của mắt để đoán sự thay đổi của 5 tạng, để có tiên lượng (tốt hay xấu) sống hay chết. Cũng xem huyết mạch, sắc của người bệnh để biết chứng hàn nhiệt thống tý.

Hoàng đế: Ý nghĩa của thủ pháp nghênh tùy là gì?

Kỳ Bá: Nguyên tắc của châm là phải có thái độ đoan chính và trong lòng yên tĩnh. Trước hết phải biết hư thực, để châm nhanh hay chậm. Khi châm tay trái giữ xương của người bệnh, tay phải sờ huyệt theo kinh, châm không được quá mạnh để gây nên cơ co lại (làm mút kim). Khi tay phải châm thẳng góc, không nghiêng ngả, khi bổ (châm nông) phải bịt lỗ châm, đồng thời dùng thủ thuật bổ trợ để dẫn khí (nâng sức chống đỡ) làm khí tà không thâm nhập thêm, như vậy châm khí sẽ ở nguyên chỗ và phục hồi tuần hoàn ở chỗ đó.

Hoàng đế: Phép gõ trên da để khai thấu lý ra sao?

Kỳ Bá: Tùy vị trí nhóm cơ bị bệnh, trước hết dùng tay trái sờ để phân rõ cơ phu, sau đó dùng tay phải tiến kim rất nhẹ và làm cho kim thẳng góc với da, rồi tiến từ từ vào phần nông của da. Cách châm đó an toàn làm thần thoải mái, không làm hao tán mà khí tà vẫn bị trừ đi. Gần như cách châm ở da (bì phu châm hiện nay).

Hoàng đế: Người có 8 cái hư, có thể dùng chẩn đoán các loại bệnh gì?

Kỳ Bá: Để chẩn ngũ tạng. Phế Tâm có tà, khí của nó lưu ở hai khuỷu tay; Can có tà, khí của nó lưu ở hai nách; Tỳ có tà, khí của nó lưu ở hai háng hông; Thận có tà, khí của nó lưu ở hai khoeo, 8 cái hư đó (khuỷu, nách, hông háng, khoeo) là những nơi khớp vận động, chân khí đi qua, huyết lạc tuần hoàn. Tà khí và huyết xấu, đương nhiên không được lưu trú ở đó. Nếu chúng lưu lại thì sẽ làm tổn thương kinh lạc, khớp xương, khớp không vận động được, hình thành chứng co cứng khớp. (Phế, khí lưu ở Xích trạch; Tâm, khí lưu hành ở Thiếu hải; Can, khí lưu hành ở Kỳ môn, Uyên dịch; Tỳ, khí lưu hành ở Xung môn, Khí xung; Thận, khí lưu hành ở Âm cốc, Ủy trung - Trương Cảnh Nhạc - Loại kinh)

Tin liên quan

Các bài mới:

Các bài đã đăng:

 
< Trước   Tiếp >