Trang chủ arrow Châm cứu án ma arrow Thiên 1. Chín loại kim. 12 huyệt nguyên (Cửu châm thập nhị nguyên)
Thiên 1. Chín loại kim. 12 huyệt nguyên (Cửu châm thập nhị nguyên)
17/06/2017
Nội dung:

- Cửu châm là 9 loại kim, Thập nhị nguyên là 12 huyệt chữa bệnh của tạng phủ.

- Nói lên tác dụng của 9 loại kim, các thủ thuật nhanh chậm, tác dụng của nghênh tùy bổ tả, tầm quan trọng trên lâm sàng của trị thần, độc khí, chẩn mạch. Nêu ra muốn điều trị tốt cần phải căn cứ vào tình trạng hư thực, nông sâu của bệnh để vận dụng linh hoạt, và cũng nêu lên tác dụng xấu khi chữa sai. Giới thiệu vị trí 12 nguyên ở các khớp, nói rõ tại sao dùng 12 nguyên để chữa bệnh tạng phủ. Nói rõ ý nghĩa của tỉnh, huỳnh, du, kinh, hợp, và quan hệ của chúng với tạng phủ.

Hoàng đế: Châm kim nhỏ để qua được da vào cơ, sơ thông kinh mạch, để điều hòa khí huyết, là khí huyết trong kinh mạch tuần hoàn không ngừng. Muốn vậy phải quy định rõ ràng cách làm.

Kỳ Bá: Dùng kim nhỏ nhìn chung đơn giản, nhưng muốn nắm được tinh túy của nó thì không đơn giản.

Trong chẩn đoán người bình thường thì dựa vào bề ngoài để quan sát bệnh tình, người giỏi thì xem xét phần khí (sự thịnh suy của khí huyết), tìm nguyên nhân gây bệnh, nơi nguyên nhân tác động vào.

Sự vi diệu (mấu chốt tác dụng) của châm kim nhỏ là (động kim) nhanh hay chậm. Người bình thường chỉ lấy huyệt gần khớp của tứ chi, người giỏi phải xem (khí) cơ (sự thịnh suy của chính khí (khí huyết), thịnh suy của tà khí qua thể chất, tinh thần người bệnh. Sự biến động của (khí) cơ không tách khỏi huyệt (nơi phản ánh sự thịnh suy, hư thực của khí huyết). Khí của huyệt vận hành thanh tĩnh và bé nhỏ. Vì vậy khi tà khí thịnh không nên đón nó và dùng phép bổ, khi tà đã lui cũng không dùng phép tả để trục tà khí. Người giỏi mới nắm được tình hình đến, đi của khí để bổ tả đúng lúc. Người không biết quy luật này thì dù có châm cũng không đạt kết quả.

Về khí thuận nghịch: Khí đi (mạch khí hư và nhỏ) là nghịch. Khí đến (mạch khí bình và hòa hoãn) là thuận. Khí nghịch mà dùng phép tả sẽ gây hư thêm. Khí thuận mà dùng phép bổ sẽ làm cho thực thêm (châm theo hướng ngược với hướng đi của nó là tả cái thực của nó, làm nó từ thực thành hư ngược lại châm xuôi theo hướng đi của mạch khí là bổ cái hư của nó, làm cho khí từ hư sang thực). Như vậy, tả theo hướng ngược đường đi của mạch khí, bổ theo hướng thuận đường đi của mạch khí là mấu chốt của phép châm để điều hòa hư thực.

- Nguyên tắc chung của phép châm là: Hư phải làm cho khí đủ (bổ), đầy (thực) phải làm nó tiết đi (tả để đuổi khí); Uất tích lâu (uyển trần) phải trừ (châm xuất huyết để đuổi bệnh tà ủng trệ ở trong).

Nếu tà khí (thịnh) thắng chính khí phải (tả để đuổi tà ra ngoài) làm thực thành hư. Thiên "Đại yếu" viết (tiến kim) chậm rồi (rút kim) nhanh làm khí đủ (thực, bổ); (tiến kim) nhanh rồi (rút kim) chậm làm (tà khí theo kim ra ngoài) thịnh thành hư (tả). Hư và thực là không có khí, có khí (đắc khí, không đắc khí). Muốn biết có đắc khí hay không người thầy thuốc phải quan sát so sánh trước sau. Trong điều trị bằng châm, cần hiểu sự hư suy của chính khí, mức độ tác động của tà khí để quyết định việc bổ tả.

Tả là châm chờ cho khí đắc, rút kim nhanh, từ từ không bịt lỗ kim, nhằm tạo một đường cho tà khí từ trong thông ra ngoài. Nếu đáng tả mà dùng thủ pháp ấn và dẫn kim để bổ sẽ làm khí huyết uất ở trong thường gọi là nội ôn. Huyết uất không tích tán được tà, tà khí không ra ngoài được.

Bổ là châm thuận theo hướng đi của (mạch) khí (để bổ khí của nó). Trong khi châm, lúc dẫn khí, ấn huyệt để tiến kim phải rất nhẹ nhàng như con muỗi đậu, như lưu giữ lại. Khi rút kim cũng vậy, như con muỗi bay, như mũi tên lìa cung, phải dứt khoát và nhanh. Tay phải rút kim, tay trái bịt lỗ kim để ngăn trung khí thoát ra ngoài. Trung khí sẽ ở lại và đầy đủ. Khi châm không được để lưu huyết, nếu có lưu huyết dưới da phải chích nặn máu cho nhanh.

- Cầm kim phải chắc có lực, tiến kim phải (dùng 3 ngón cái, trỏ, giữa giữ kim) cho thẳng, không lệch phải lệch trái. Trong khi thao tác thần của mình phải để vào kim, phải chú ý theo dõi tình trạng bệnh, huyết mạch của người bệnh - có vậy mới không lo lắng. Khi châm phải quan sát thần khí và khí tạng phủ để biết người bệnh còn sống hay chết. Khi ấn vào huyệt mạch nếu thấy cứng đau là tà khí ở ngoài vào kết tụ ở đó, nên châm tả để trừ đi.

Chín loại kim:

1. Sàm châm: 1,6 tấc đầu kim to, mũi kim nhọn (như đầu mũi tên) để (chích ở nông) tả dương khí.

2. Viên châm: 1,6 tấc mũi kim như quả trứng dùng trong xoa bóp, chữa bệnh tà ở giữa cơ, không làm tổn thương cơ mà (có thể) tả khí ở đó.

3. Để châm: 3,6 tấc mũi kim tròn nhọn như quả hạt dẻ. Không chích qua da, chủ yếu để xoa bóp kinh mạch sơ thông khí huyết.

4. Phong châm: 1,6 tấc mũi kim nhọn, 3 cạnh để chích máu (ở lạc - dùng trong nhiệt độc).

5. Phi châm: Dài 4 tấc, rộng 2,3 phân, mũi như mũi kiếm, dùng để chích tháo mủ.

6. Viên lợi châm: 1,6 tấc to như lông dài (ngựa), tròn nhọn, thân kim hơi thô để (chữa bệnh cấp) lấy bao khí.

7. Hào châm: 3,6 tấc nhọn, nhỏ như vòi muỗi, dùng chữa thống tý, lay động kim từ từ, trong khi đợi khí, có thể lưu kim lâu để phù dưỡng chân khí.

8. Trường châm: 7 tấc, mũi nhọn thân mảnh để chữa chứng tý lâu ngày.

9. Đại châm: 4 tấc, đầu nhọn, hơi tròn, như cây côn để tả thủy, dùng trị bệnh khớp có nước.

Tà khí vào kinh mạch gây bệnh: Tà khí tại thượng (ngoại tà phong hàn...thường từ đầu vào), trọc khí tại trung (ăn uống không thận trọng gây trọc khí, thường dừng ở trường vị), thanh khí tại hạ (ẩm thấp lạnh lẽo thường từ chân vào). Trong châm châm vào hãm mạch (châm huyệt trên đầu) có thể làm tà khí theo kim ra ngoài, châm vào trung mạch (kinh tì vị - Trung thổ) có thể trừ trọc khí tích trệ ở trường vị. Bệnh ở nông nếu châm sâu, tà không ra mà theo kim vào làm bệnh nặng lên. Vì vậy do vị trí của da, nhục, cân , mạch khác nhau, bệnh của chúng cũng khác nhau và cách châm cũng phải tương ứng với vị trí.

- Bệnh thực không được dùng phép bổ, bệnh hư không được dùng phép tả. Vì làm như vậy đã có bệnh lại càng thêm bệnh; Bệnh đã nặng rồi, nếu tả khí của 5 kinh âm (tạng), có thể chết, nếu tả khí của 6 kinh dương (phủ) có thể làm người bại hoại, khó hồi phục. Tả nhầm kinh âm (làm tạng khí kiệt) có thể chết, tả nhầm kinh dương (làm hao tổn dương khí) có thể phát cuồng. Đó là cái hại của bổ tả nhầm.

- Hậu khí: Châm rồi mà khí chưa đến (chưa có cảm giác đắc khí) cần tiếp tục kích thích đến khi đắc khí. Châm mà khí đến (đắc khí), có thể rút kim, không cần lưu kim. Đắc khí biểu thị có hiệu quả, đấy là đạo lý chính của châm.

Hoàng đế: Muốn biết "nơi mạch khí ra vào chẩy đi của 5 tạng 6 phủ".

Kỳ Bá: Mỗi tạng thông với một kinh mạch. Mỗi kinh mạch đều có 5 huyệt du (tỉnh, huỳnh, du, kinh, hợp). 5 kinh cộng với 25 huyệt du, mỗi phủ cũng thông với mỗi kinh mạch, mỗi kinh mạch có 6 huyệt du (tỉnh, huỳnh, du, nguyên, kinh, hợp). Công 36 huyệt du. Cơ thể có 12 kinh chính, 15 lạc mạch, cộng 27 đường kinh lạc, theo mạch khí của kinh mạch thì có 27 khí, tuần hoàn toàn thân.

- Nơi mạch khí xuất ra (như đầu nguồn) là tỉnh. Nơi mạch khí đi qua (như dòng chảy nhỏ) là huỳnh. Nơi có mạch khí tưới vào (như chảy vào chỗ trũng) là du. Nơi mạch khí chảy ào ào là kinh, nơi mạch khí đi vào (như trăm sông đổ vào bể) là hợp. 27 khí đều đi ở ngũ du.

- Nơi giao nhau của các tiết có 365 hội, nếu hiểu thực chất của nó thì hiểu tất cả, nếu không sẽ hiểu rất lan man. Tiết (huyệt) là nơi thần khí ra vào du hành. Không phải là da thịt gần xương.

- Khi châm, phải xem mắt (thần) sắc của bệnh nhân để hiểu trạng thái bệnh tật của họ còn hay hết, cần theo dõi động tĩnh và xác định rõ tà chính của bệnh nhân. Lúc châm tay phải cầm kim để châm, hai ngón tay trái giữ để phòng kim cong. Châm song khi khí đến (đắc khí) thì rút kim. Khi châm cứu, phải xem mạch để xác định bệnh nặng nhẹ rồi mới chữa.

- Nếu khí ngũ tạng của bệnh nhân đã kiệt (âm hư) mà châm ngược lại (bổ dương) sẽ làm âm thêm hư, hư thêm hư là "trùng kiệt". Tạng khí mà trùng kiệt thì chết, và chết yên tĩnh(vì là âm kiệt) nguyên nhân chủ yếu là vì thầy thuốc vi phạm nguyên tắc (tạng khí lý âm hư phải bổ tạng), đã dùng huyệt ở kinh nơi tạng khí ra ở dưới nách và hai bên ngực (làm cho tạng khí càng suy kiệt gây nên). Nếu khí ngũ tạng có biểu hiện kiệt ở ngoài (đó là dương hư), thầy thuốc lại bổ bên trong (kinh âm), trợ âm thì (dương khí sẽ kiệt, đó là biến chứng khí âm dương không thuận tiếp nhau) là nghịch quyết. Chứng quyết cũng gây chết (vì là âm có khi thừa), nên trước khi chết bệnh nhân bồn chồn. Đó là do thầy thuốc đã chữa ngược (lý dương hư phải bổ dương) lại dùng huyệt ở các đầu chi, làm cho dương khí càng suy kiệt.

- Cái hại của châm:

Nếu dùng phép tả để châm đúng bệnh tà mà lưu kim không rút, làm tinh tiết bệnh nặng lên, người gầy đi; châm chưa đúng bệnh tà (chưa làm thủ thuật) đã rút kim ngay làm tà khí lưu trệ, làm úng uất lại thành ung nhọt.

- Khí của 5 tạng có biểu lý với 6 phủ, bên ngoài của 6 phủ có cả thẩy 12 huyệt nguyên. 12 nguyên đều xuất ở tứ quan, tứ quan chủ trị bệnh của 5 tạng. Bệnh của 5 tạng dùng 12 huyệt nguyên để chữa. 12 huyệt nguyên là nơi tụ tập khí vị của 365 tiết để nuôi 5 tạng, là nơi phản ảnh bệnh của 5 tạng. Quan sát phản ứng của các huyệt nguyên có thể hiểu tình trạng bệnh tật của ngũ tạng. Thiếu âm ở trong dương là phế, huyệt nguyên là Thái uyên.

- Thái dương ở trong dương là Tâm, huyệt nguyên là Đại lăng -  thiếu dương ở trong âm là Can, huyệt nguyên là Thái xung - chí âm ở trong âm là Tỳ, huyệt nguyên là Thái bạch - thái âm ở trong âm là Thận, huyệt nguyên là Thái khê. Huyệt nguyên của Cao là Cưu vỹ (thuộc mạch nhâm). Huyệt nguyên của Hoang manh là Khí hải (thuộc mạch nhâm). 5 tạng có 10 huyệt nguyên, thêm 2 huyệt của Cao và Hoang cộng 12 huyệt nguyên.

- Là nơi khí của tạng phủ kinh lạc chảy đến, cho nên được dùng để chữa bệnh của 6 phủ 5 tạng.

- Bệnh bụng chướng: lấy huyệt ở 3 kinh dương ở chân để chữa. Nếu ỉa chảy sống phân lấy huyệt ở 3 kinh âm ở chân để chữa.

- Có người cho rằng bệnh lâu không thể chữa được, điều đó không đúng. Người thầy châm cứu có thể chữa được bệnh lâu, người nói không chữa được là không nắm được phép châm cứu.

- Châm chữa các bệnh sốt (dùng châm nông, nhẹ và nhanh) như dùng tay thử nước sôi, cho vào rút ra ngay. Vậy châm chữa bệnh hàn hoặc chân tay lạnh, dùng cách châm sâu và lưu kim (như lưu luyến quê nhà không muốn rời vậy). Dương tà vào phần âm gây sốt, cần lấy Túc tam lý, đợi tà khí lui rồi mới ngừng châm. Nếu tà khí chưa lui vẫn phải châm tiếp. Nếu bệnh ở trong (tạng) mà chững lại ở trên cao, cần lấy Âm lăng tuyền (Thái âm tỳ), nếu bệnh ở phủ mà chứng lại ở trên cao, cần lấy huyệt Dương lăng tuyền (Thiếu dương đởm).

Tin liên quan

Các bài mới:

Các bài đã đăng:

 
< Trước   Tiếp >