Võ kinh thất thư

(1/10) > >>

Tiêu-diêu:
Võ kinh thất thư (giản thể: 武經七書; Bính âm: Wǔjīngqīshū) là tập hợp 7 bộ binh pháp danh tiếng của Trung Quốc cổ đại. Đây được coi là các tác phẩm tiêu biểu nhất cho quân sự Trung Quốc cổ đại, chúng được chính thức tập hợp lần đầu vào thời nhà Tống và kể từ đó hầu như luôn được giới thiệu trong các bộ bách khoa thư về quân sự. Bảy tác phẩm trong Võ kinh thất thư bao gồm: Lục Thao (六韬) của Khương Tử Nha đời nhà Chu, Tư Mã pháp (司马法) của Tư Mã Nhương Thư đời Xuân Thu, Tôn Tử binh pháp (孙子兵法) của Tôn Vũ đời Xuân Thu, Ngô Tử (吴子) của Ngô Khởi đời Chiến Quốc, Úy Liêu Tử (尉缭子) của Úy Liêu đời Chiến Quốc, Tam lược (三略) của Hoàng Thạch Công nhưng được cho là sáng tác cuối đời Tây Hán, Đường Thái Tông Lý Vệ công vấn đối (唐太宗李卫公问对) của Vệ Cảnh Vũ công Lý Tĩnh đời nhà Đường.

Lịch sử

Vào thế kỷ 11 đời nhà Tống, vua Tống Thần Tông đã cho ra lệnh tập hợp bộ Võ kinh thất thư vào năm 1080, bắt đầu từ đó bảy tác phẩm này được đưa vào hầu hết các bộ bách khoa thư về quân sự. Đây là các tài liệu kinh điển mà quan võ Trung Quốc thời phong kiến phải nghiên cứu bên cạnh các tác phẩm Nho giáo. Trong cuộc Nội chiến Trung Quốc, các Đảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng nghiên cứu những tài liệu này, Võ kinh thất thư còn được nhiều học giả quân sự của châu Âu và Hoa Kỳ tìm hiểu.

Võ kinh thất thư, được tập hợp thành sách vào thời Bắc Tống, gồm 25 quyển và được lựa chọn từ hơn 340 bộ binh thư cổ đại đang được lưu truyền tại thời kỳ đó. Đây là một tổng tập về binh pháp quan phương của triều đình Bắc Tống, và cũng là bộ sách giáo khoa quân sự đầu tiên của Trung Quốc thời cổ. Triều đình Bắc Tống biên soạn và ban hành nhằm phục vụ cho nhu cầu quân sự và quốc phòng đương thời. Sau thời Tống Nhân Tông, vào năm Hy Ninh thứ 5 (1072), Tống Thần Tông đã lập lại "Võ học" (trường học quân sự), Võ kinh thất thư đã trở thành giáo trình của trường học này. Vào niên hiệu Nguyên Phong thứ 3 (1080), Tống Thần Tông ra lệnh cho quan Tư nghiệp Quốc tử giám (trường học cao cấp nhất thời bấy giờ) là Chu Phục tiến hành tổ chức thu thập, hiệu đính, xuất bản bảy cuốn binh thư trên. Bác sĩ võ học Hà Khứ Phi cũng tham gia vào công trình này. Công việc hiệu đính được tiến hành trong 3 năm, đến mùa đông năm Nguyên Phong thứ 6 (1083) mới hoàn tất các công tác chuẩn bị in ấn. Sau khi được ban hành, nó đã trở thành giáo trình cơ bản được sử dụng trong các trường học quân sự và trong thi tuyển võ cử (võ cử: người trúng tuyển trong các kỳ thi võ khoa) từ đời Tống trở về sau. Triều Nam Tống quy định, các học trò trong trường học quân sự (Võ học) đều phải học tập binh pháp. Hoàng đế khai quốc triều Minh là Chu Nguyên Chương từng ra lệnh cho bộ Binh khắc in Võ kinh thất thư phân phát cho các quan lại liên quan, các tướng lĩnh cao cấp và con cháu của họ.

Tuy các tác phẩm thuộc Vũ kinh thất thư là không thay đổi kể từ đời Tống nhưng nội dung của từng tác phẩm lại được biên soạn và bổ sung theo thời gian, ví dụ vào năm 1972 với việc người ta tìm ra bộ thẻ tre Ngân Tước sơn, Tôn Tử binh pháp đã được bổ sung thêm 5 chương mới trước đó chưa từng được biết tới.
Trình tự sắp xếp

Trình tự sắp xếp trong Võ kinh thất thư được xác lập bởi Tư nghiệp Quốc Tử giám Chu Phục trong quá trình hiệu đính tập sách. Các cuốn binh thư được sắp xếp theo trình tự như sau:

   1. Binh pháp Tôn Tử
   2. Binh pháp Ngô Tử
   3. Tư Mã pháp
   4. Lý Vệ Công vấn đối
   5. Úy Liễu Tử
   6. Tam lược
   7. Lục thao

Đến thời Nam Tống, trật tự trên bắt đầu bị xáo trộn. Trong bản Võ kinh thất thư in dưới thời Tống Hiếu Tông, trật tự trên bị đổi thành:

   1. Binh pháp Tôn Tử
   2. Binh pháp Ngô Tử
   3. Tư Mã pháp
   4. Lục thao
   5. Úy Liễu Tử
   6. Tam lược
   7. Lý Vệ Công vấn đối

Bản in Võ kinh thất thư sớm nhất còn tồn tại đến ngày nay, hiện được lưu trữ tại thư viện Seikado (Tĩnh Gia đường văn khố) tại Nhật Bản là bản in dưới thời Tống Hiếu Tông-Tống Quang Tông thuộc Nam Tống, lại đặt Lục thao lên trước Binh pháp Tôn Tử. Đến đời nhà Thanh, trong bản Võ kinh trực giải, Lưu Dần lại khôi phục lại trật tự của Chu Phục, đặt binh thư của Tôn, Ngô lên đầu và trả Lục thao xuống cuối cùng. Về sau, tuy vẫn xuất hiện nhiều thay đổi trong trật tự sắp xếp, nhưng vị tri đứng đầu của Binh pháp Tôn Tử và Binh pháp Ngô Tử cơ bản không hề thay đổi, chỉ có những tác phẩm binh thư xếp sau có sự hoán đổi vị trí mà thôi.
Các bản chú giải

Sau khi Võ kinh thất thư ban hành, đã thu hút được sự chú ý của đông đảo dân chúng, bởi vậy, các nhà bình chú cũng đua nhau xuất hiện, trước sau đã xuất hiện đến vài chục bản chú thích. Bản dịch sớm nhất còn lưu truyền đến ngày nay là Võ kinh thất thư giảng nghĩa của Thi Tử Mỹ đời nhà Tống, mang ý nghĩa khởi đầy cho các nhà chú giải đời sau. Bản Võ kinh thất thư trực giải của Lưu Dần đời nhà Minh do chú sớ tường tận, dẫn chứng xác đáng, nên được người đời sau xem trọng nhất. Ngoài ra còn có Võ kinh khai tông của Hoàng Hiến Thần, Võ kinh thất thư lối giải của Chu Đường đời nhà Thanh, Võ kinh thất thư toàn giải của Đinh Hồng Chương cũng thuộc đời nhà Thanh. Những cuốn sách chú giải này đã có tác dụng tích cực trong việc nghiên cứu và học tập Võ kinh thất thư

Võ kinh thất thư giảng nghĩa của Thi Tử Mỹ đời Tống đã coi bảy tác phẩm binh thư là một chỉnh thể để tiến hành chú thích một cách thống nhất. Các bản chú thích xuất hiện sau đó đều học tập theo mô thức này. Bản chú giải của Thi Tử Mỹ vừa có kiến giải riêng của tác giả, lại viện dẫn rất nhiều sử, truyện làm luận chứng, nội dung phong phú, rất giàu sức thuyết phục. Trong những tác phẩm chú giải xuất hiện sau, nổi bật nhất là Võ kinh thất thư trực giải của Lưu Dần. Bản chú giải này dễ hiểu, ngôn từ giản dị nhưng ý tứ sâu sắc, kết hợp giữa chú thích từ ngữ và giải thích nghĩa lý, đôi chỗ dùng thực tế lịch sử làm dẫn chứng tham khảo, đây chính là bản chú giải suất sắc nhất. Phong trào chú giải Võ kinh thất thư rất thịnh hành trong giới học giả, du sĩ đời Minh, Thanh, nhưng rất ít sáng kiến, đều không vượt qua được Võ kinh thất thư trực giải.
(Nguồn: Wikipedia)

Tiêu-diêu:
Trong Võ kinh thất thư thì Tôn tử binh pháp là bộ binh pháp nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng rộng rãi tới nhiều nhà quân sự, chính trị sau này. Sau đây tôi xin giới thiệu 13 thiên binh pháp của Tôn Vũ, người được hậu thế xưng tụng là "Binh thánh phương đông".
Tôn tử binh pháp

Thiên Thứ nhất

Kế Sách
Tôn tử nói: Chiến tranh là đại sự của quốc gia, quan hệ tới việc sống chết của nhân dân, sự mất còn của nhà nước, không thể không khảo sát nghiên cứu cho thật kỹ. Cho nên, phải dựa vào năm mặt sau đây mà phân tích, nghiên cứu, so sánh các điều kiện tốt xấu giữa hai bên đối địch, để tìm hiểu tình thế thắng bại trong chiến tranh: Một là Đạo, hai là Thiên, ba là Địa, bốn là Tướng, năm là Pháp. Đạo là chỉ việc chính trị, đạo nghĩa, phải làm cho nguyện vọng của dân chúng và vua nhất trí với nhau, đồng tâm đồng đức. Có như vậy, trong chiến tranh mới có thể bảo nhân dân vì vua mà chết, vì vua mà sống, không sợ hiểm nguy. Thiên là thiên thời, nói về ngày đêm, trời râm trời nắng, trời lạnh trời nóng, tức tình trạng về khí hậu thời tiết. Địa là địa lợi, nói về đường sá xa gần, địa thế hiểm yếu hay bằng phẳng, khu vực tác chiến rộng hẹp, địa hình phải chăng có lợi cho tiến công, phòng thủ, tiến tới, thối lui. Tướng là tướng soái, tức nói về tài trí, uy tín, lòng nhân ái, lòng can đảm, sự uy nghiêm của người tướng. Pháp là pháp chế, nói về tình trạng tổ chức, biên chế, sự quy định về hiệu lệnh chỉ huy, sự phân chia chức quyền của tướng tá, sự cung ứng vật tư cho quân đội và chế độ quản lý... Tình huống về năm mặt nói trên, người tướng soái không thể không biết. Chỉ khi nào hiểu rõ và nắm chặt được những tình huống đó thì mới có thể giành được sự thắng lợi. Không thật sự hiểu rõ và nắm chắc được thì không thể đắc thắng. Cho nên phải từ bảy mặt sau mà tính toán, so sánh những điều kiện đôi bên giữa địch và ta để tìm hiểu tình thế thắng bại trong chiến tranh. Tức là phải xem xét: Vua bên nào có nền chính trị được lòng dân hơn? Tướng soái bên nào có tài năng hơn? Thiên thời địa lợi bên nào tốt hơn? Pháp lệnh bên nào được quán triệt hơn? Thực lực quân đội bên nào mạnh hơn? Binh sỹ bên nào được huấn luyện thành thục hơn? Thưởng phạt bên nào nghiêm minh hơn?
Căn cứ vào những điều đó, ta có thể tính toán mà biết trước được ai thắng ai thua. Nếu chịu nghe mưu kế của ta, để cho ta chỉ huy tác chiến thì chiến tranh có thể thắng lợi, ta sẽ ở lại; Nếu không chịu nghe mưu kế của ta, cho dù có dùng ta để chỉ huy tác chiến, chiến tranh tất nhiên bị thất bại, ta sẽ rời đi (nguyên tác"Tướng thinh ngã kế, dụng chi tất thắng, lưu chi; tướng bất thinh ngã kế, dụng chi tất bại, khứ chi") Nếu kế sách có lợi và được chấp thuận, còn phải tìm cách tạo ra tình thế có lợi để làm điều kiện phụ trợ bên ngoài cho việc tiến hành chiến tranh. Thế, tức là căn cứ vào tình huống phải chăng có lợi để mà có hành động tương ứng. Dùng binh đánh giặc là hành động dối trá (nguyên tác "Binh giả, quỷ đạo giã" là câu cửa miệng rất nổi tiếng của các vị trí tướng). Thông thường, nếu có thể tấn công thì giả như không thể tấn công, muốn đánh như giả như không muốn đánh, muốn hành động ở gần nhưng giả như muốn hành động ở xa, muốn hành động ở xa nhưng lại giả như muốn hành động ở gần. Lấy lợi mà dụ kẻ tham, chiến thắng kẻ loạn, phòng bị kẻ có thực lực, tránh kẻ thù mạnh, khiêu khích kẻ hay giận dữ. Địch khinh thường thì làm chúng thêm kiêu, địch nhàn hạ thì làm chúng vất vả, địch đoàn kết thì làm chúng ly tán. Tấn công kẻ thù lúc chúng không phòng bị, hành động khi chúng không ngờ tới (nguyên tác "Công kỳ vô bị, xuất kỳ bất ý") Tất cả những điều nói trên đều là sự khôn khéo để thủ thắng của nhà quân sự, nhưng lại không thể quy định trước một cách máy móc. Phàm trước khi khai chiến, đoán được thắng là do tính toán đầy đủ.Trước khi khai chiến mà đoán không thắng là do tính toán không chu đáo. Tính nhiều hơn tính ít, huống hồ không tính toán gì. Quan sát đủ các mặt đó, ai thắng ai bại có thể đoán trước được.

Tiêu-diêu:
Tôn tử binh pháp

Thiên Thứ hai

Tác chiến

Tôn tử nói: Nguyên tắc chung khi dụng binh tác chiến là khi phải huy động chiến xa nghìn chiếc, xe tải nặng nghìn chiếc, quân đội mười vạn, vận lương đi xa nghìn dặm, thì tình huống đó, chi phí ở tiền phương và hậu phương, chi phí đãi khách khứa sứ thần, bảo dưỡng và bổ sung tiêu phí nghìn vàng thì mới có thể cho mười vạn quân xuất chinh được. Dùng một đạo quân khổng lồ như thế để tác chiến thì đòi hỏi phải thắng nhanh. Nếu kéo dài thời gian, quân đội sẽ mệt mỏi, nhuệ khí sẽ suy giảm; tấn công thành trì sẽ hao hết sức chiến đấu, quân đội tác chiến ở ngoài lâu có thể làm nền tài chính của quốc gia gặp khó khăn. Nếu quân đội mỏi mệt, nhuệ khí suy giảm thì lúc đó cho dù là người tài giỏi sáng suốt đến đâu cũng không thể cứu vãn tình thế được. Cho nên dùng binh đánh giặc, chỉ nghe nói trong tốc thắng có những thiếu sót vụng về chứ không bao giờ có việc kéo dài mà lợi cho quốc gia cả. Cho nên người không hiểu biết chỗ hại khi dụng binh thì không thể hiểu được chỗ lợi trong dụng binh. người giỏi dụng binh, lính mãn ngũ không gọi lại, lương thực không vận tải quá 3 lần, quân nhu lấy tại nước mình, lương thực giải quyết tại nước địch. Được vậy thì lương thảo cấp dưỡng cho quân đội sẽ được thoả mãn. Sở dĩ quốc gia phải nghèo vì dụng binh là do vận tải lương thực đi quá xa. Vận tải lượng thực xa, bá tánh sẽ nghèo. Chung quanh nơi quân đội tập kết, vật giá sẽ cao vọt bất thường. Vật giá cao vọt sẽ làm cho tiền tài của bách tính khô kiệt. Tiền tài khô kiệt tất phải gấp rút thu thêm thuế. Sức mạnh tiêu hao hết, tiền tài khô kiệt, trong nước khắp đồng quê nhà nhà đều trống rỗng. Bách tính thì tiền tài 10 phần hao bẩy, quốc gia thì xe hỏng ngựa mỏi mười phần hết sáu. Cho nên tướng soái giỏi lấy lương thực ở nước địch. Ăn 1 chung gạo ở nước địch bằng 20 chung gạo ở nước nhà. Dùng 1 thạch cỏ ở nước địch bằng 20 thạch cỏ ở nước nhà. Muốn quân hăng hái giết địch phải làm quân biết hận địch. Cướp của địch mà thưởng cho quân nhà. Đánh bằng xe, cướp được hơn 10 cái thì thưởng cho người đầu tiên cướp được. Bỏ cờ xe địch, cắm cờ quân nhà mà dùng chung với xe nhà. Đãi tù binh tử tế thì thắng địch mà làm quân nhà thêm mạnh. Thế nên dụng binh cốt thắng, không cốt kéo dài.
Tướng soái giỏi dụng binh là thần hộ mệnh của dân, là người giữ sự an nguy cho quốc gia.

Tiêu-diêu:
Tôn tử binh pháp

Thiên Thứ ba

Mưu công

Tôn tử nói: Đại phàm cái phép dụng binh, làm cho cả nước địch khuất phục trọn vẹn là thượng sách, đánh nó là kém hơn. Làm cho toàn quân địch chịu khuất phục là thượng sách, đánh nó là kém hơn. Làm nguyên lữ quân địch khuất phục là thượng sách, đánh nó là kém hơn. Làm nguyên một tốt địch khuất phục là thượng sách, đánh nó là kém hơn. làm nguyên một ngũ địch khuất phục là thượng sách, đánh nó là kém hơn. Thế nên bách chiến bách thắng cũng chưa phải cách sáng suốt trong sự sáng suốt. Không cần đánh mà làm kẻ địch khuất phục mới gọi là sáng suốt nhất trong sự sáng suốt. Cho nên thượng sách trong việc dùng binh là lấy mưu lược để thắng địch, kế đó là thắng địch bằng ngoại giao, kế nữa là dùng binh thắng địch, hạ sách là tấn công thành trì. Đánh thành là biện pháp bất đắc dĩ, chế tạo chiến xa, vũ khí phải mất 3 tháng mới hoàn thành, chuẩn bị binh mã lại mất 3 tháng nữa. Tướng sốt ruột xua quân đánh thành, thương vong 3 phần mất 1 mà vẫn chưa hạ được. Đó chính là cái hại của việc đánh thành. Cho nên người giỏi dụng binh, thắng địch mà không phải giao chiến, đoạt thành mà không cần tấn công, phá quốc mà không cần đánh lâu, nhất địch phải dùng mưu lược toàn thắng mà thủ thắng trong thiên hạ, quân không mỏi mệt mà vẫn giành được thắng lợi hoàn toàn.
Phép dụng binh, gấp mười lần địch thì bao vây, gấp năm lần địch thì tấn công, gấp đôi chì chia ra mà đánh, bằng địch thì phải đánh khéo, kém địch thì rút, tránh giao tranh với địch. Binh yếu mà đánh thẳng tất bị bắt làm tù binh. Tướng soái là trợ thủ của quốc gia, trợ thủ tốt thì nước cường thịnh, kém thì nước suy yếu.
Vua có thể gây bất lợi cho việc quân trong 3 trường hợp: không biết quân không thể tiến mà bắt tiến, không biết quân không thể thoái mà bắt thoái, đó là trói buộc quân đội. không biết việc quân mà can dự vào khiến tướng sĩ hoang mang khó hiểu. không biết mưu kế dụng binh mà can dự vào khiến tướng sĩ băn khoăn nghi ngờ. Quân hoang mang nghi ngờ thì các nước chư hầu thừa cơ tấn công. Đó là tự làm rối mình khiến địch thắng. Cho nên có năm điều có thể thắng: Biết có khả năng đánh hay không có khả năng đánh, có thể thắng, biết dựa vào binh lực nhiều ít mà đánh, có thể thắng, quân tướng đồng lòng có thể thắng, lấy quân có chuẩn bị đánh quân không chuẩn bị có thể thắng, tướng giỏi mà vua không can thiệp vào có thể thắng. Đây là 5 điều có thể đoán trước được thắng lợi.
Cho nên có thể nói: Biết địch biết ta, trăm trận không bại, biết ta mà không biết địch trận thắng trận bại, không biết địch không biết ta, trận nào cũng bại. (nguyên văn: Tri bỉ tri kỷ giả, bách chiến bất đãi, bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ, bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi)

Tiêu-diêu:
Tôn tử binh pháp

Thiên Thứ Tư

Hình

Tôn tử nói: Trước kia người giỏi dụng binh đánh giặc, trước tiên phải không để bại, sau mới đánh bại kẻ địch. không để bại là do mình, giành chiên thắng là tại địch. Thế nên người giỏi dụng binh có thể làm kẻ địch không thắng được mình, nhưng không chắc làm kẻ địch bị ta đánh thắng. Cho nên nói thắng lợi có thể dự kiến nhưng không nhất thiết đòi hỏi được (tối nghĩa quá:"thắng khả tri,i nhi bất khả vi") không thể thắng được thì thủ, có thể thắng được thì công. Thủ là do chưa đủ điều kiện, công là khi điều kiện có thừa. Người giỏi thủ ém quân tại các loại địa hình, người giỏi công phát huy mọi thế mạnh, thế nên bảo toàn được lực lượng mà vẫn toàn thắng ("thiện thủ giả, tàng ư cửu địa chi hạ, thiện công giả, động ư cửu thiên chi thượng"). Dự đoán chiến thắng mà không hơn nhiều người thì chưa gọi là giỏi trong những người giỏi, thắng 1 trận mà thiên hạ gọi là giỏi thì cũng chưa gọi là giỏi trong những người giỏi.. Cũng như nhấc một cọng lông thì không kể là khoẻ, nhìn thấy nhật nguyệt không kể là mắt tinh, nghe được sấm sét không kể là tai thính. Thời xưa, người giỏi dụng binh thường đánh bại kẻ địch dễ thắng nên việc giành được chiến thắng ấy không được tiếng là trí dũng. Chiến thắng của họ là không có gì phải nghi ngờ vì nó dựa trên cơ sở tất thắng kẻ địch đã lâm vào thế thất bại. Cho nên người giỏi dụng binh bao giờ cũng đặt mình vào thế bất bại mà cũng không bỏ qua cơ hội nào để thắng địch. Vì vậy, đội quân chiến thắng bao giờ cũng tạo điều kiện để thắng, sau mới giao tranh, đội quân chiến bại thường giao tranh tranh trước, sau mới tìm chiến thắng bằng sự cầu may. Người giỏi dụng binh có thể từ các mặt tu sửa cái lẽ không thể thắng để nắm được quyền quyết định sự thắng bại. Phép dụng binh là: Thứ nhất là "độ", thứ hai là "lượng", thứ 3 là "số", thứ 4 là "xứng", thứ 5 là "thắng". Tính thế sinh độ, độ sinh lượng, lượng sinh số, số sinh xứng, xứng sinh thắng. Thắng binh dùng "dật" đánh "thù", bại binh dùng "thù" chống "dật". Người chiến thắng là người có quân lực hùng mạnh, chỉ huy tác chiến dùng binh như tháo nước đổ từ trên trời xuống vậy, cái này gọi là hình của binh lực quân sự.  Nguyên văn "Thắng giả chi chiến dân dã, nhược quyết tích thuỷ ư thiên nhẫn chi khê giả, hình dã"
(dật=1/24 lạng; lạng=1/24 thù)

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page