Gái Man
Newbie
Offline
Gender: 
Posts: 4
|
 |
« Reply #1 on: August 01, 2008, 07:24:27 AM » |
|
Hát ống ở Hải Bối
Làng Hải Bối, xã Hải Bối, huyện Đông Anh nằm ở bờ Bắc sông Hồng, có vị trí quân sự hiểm yếu. Vào những năm đầu công nguyên, làng nằm trong địa bàn hoạt của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
Được biết, làng thờ ba vị thành hoàng, tiền thân là con của Lạc Long Quân và Âu Cơ, sau theo bà Âu Cơ về miền núi được phong Tam Đảo sơn thần. Đến đời sau, ông Triệu Long và bà Đào Thị Loan, người huyện Yên Lãng, vì muộn con đến chùa Tây Thiên ở núi Tam Đảo cầu tự. Một đêm nghỉ lại ở chùa, bà thấy có 3 người đội mũ, mặc áo đỏ, đeo đai ngọc đen tự xưng rằng: “Chúng tôi là thần núi này, trời sai về nhà ngươi.” Bỗng lại thấy trên ban thờ xuất hiện ba ngôi sao rất sáng, phát ra ánh hào quang, bà Loan bèn nuốt lấy. Khi về, bà có thai, đến ngày mồng 4 tháng Giêng năm Giáp Ngọ sinh ra một bọc có 3 người con trai, hình dạng kỳ dị, đặt tên là Nguyên, Chính, Lệnh. Năm 15 tuổi, cả ba anh em đều am hiểu binh thư, tinh thông võ nghệ. Khi ấy, Tô Định làm quan Thái thú ở Giao Chỉ, chính sự hà khắc, Hai Bà Trưng phất cờ chiêu dụ người tài giỏi bốn phương chống lại, các ông bèn mộ 3000 hương binh, đến Hát Môn ứng nghĩa. Biết các ông đều là các bậc anh tài, Bà Trưng phong chức sai đem quân đóng đồn trại tại đầu làng Hải Bối và sau đó cùng Hai Bà tiến đánh trị sở của chúng ở Luy Lâu (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) Tô Định sợ hãi cải trang làm dân thường trốn thoát. Sau khi thu phục 65 thành trì, Bà Trưng lên ngôi vua, đóng đô ở Mê Linh, Hai Bà cho các ông về chiêu dân lập ấp ở Hải Bối. Quý mến tài năng, dân làng có dựng nhà để các ông ở. Các phụ lão nói rằng; “Lúc các ngài sống thì làm dinh, sau xin để làm tự sở”. Giữ đúng lời hứa, sau ngày ba ông mất, dân dùng nơi ấy làm đền thờ. Lúc đầu ngôi đền còn đơn sơ, đến đầu thế kỷ XVIII, tiến sĩ Vũ Công Tể, đi sứ Trung Quốc trên đường trở về qua Việt Trì, có mua một ngôi đình, đóng bè thả xuôi sông Hồng về dựng ở quê nhà.
Đình của 4 giáp trong làng nên gọi là Đình Tứ. Đình 3 dinh 10 nóc, quy mô rất lớn. Hằng năm vào ngày sinh, ngày hoá của thần và đặc biệt vào ngày 15 tháng 8, ngày Hai Bà mở tiệc khao quân khi lên ngôi, đồng thời cũng là ngày Triệu Nguyên, Triệu Chính, Triệu Lệnh về nhận thực ấp ở Hải Bối, dân làng thường mở hội lớn. Cùng với các nghi lễ, trong hội có nhiều trò chơi như đấu vật, chọi gà, câu gà và hát ống.
Hát ống ở Hải Bối còn gọi là hát giao duyên, hát ví. Hát ống diễn ra nhôn nhịp nhất là vào tuần trăng tháng 8, tại đoạn ngã ba nối với đường vào làng. Tại đây, ở phía ngoài đê có hồ nước rộng mênh mông. Dưới ánh trăng thu cảnh trí làng quê hiện lên thơ mộng và êm đềm. Dụng cụ hát ống là hai ống nứa, một đầu bịt da ếch. Hai ống nối với nhau bằng một sợi chỉ tơ dài từ 50 đến 100 mét tuỳ theo địa hình, cốt sao người ở hai đầu hát đối đáp thoải mái mà người đứng ở đầu phía bên kia không nghe thấy tiếng. Ở hai đầu dây, mặt sau da ếch được buộc vào một que tre vót nhỏ. Người tham gia hát ống chủ yếu là thanh niên nam nữ, có tài ứng đối. Các câu bên này hỏi bên kia trả lời được thể hiện bằng giọng hát với đủ các làn điệu. Nội dung câu hát là những lời giao duyên tình tứ, có khi ngẫu hứng tức cảnh sinh tình. Cuộc hát say sưa thường kéo dài đến một hai giờ sáng.
Hiện nay ở Hải Bối còn cụ Nguyễn Thị Nạp và cụ Nguyễn Thị Bảy đều đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn thuộc hàng trăm câu hát:
Chàng về em nắm lấy tay/ Chàng ơi ở lại đêm nay mai về/ Rồi mai nên thiếp nên thê/ Nên chăn nên gối ta về cùng nhau
Cụ bảy cho biết, trong lời hát thể hiện nét tình tứ và sự mạnh dạn nhưng trong thực tế nam nữ ngày ấy không bao giờ sàm sỡ trong khi hát. Họ rất nhã nhặn, kín đáo, ý nhị giữ đúng lễ giáo thời đó.
Hát ống đêm rằm tháng 8 ở Hải Bối mang vẻ riêng của một làng quê cần được sưu tầm, nghiên cứu phục hồi.
Theo HNM
|