Tứ Hải giai huynh đệ
February 06, 2012, 05:31:14 AM *
Welcome, Guest. Please login or register.
Did you miss your activation email?

Login with username, password and session length
News:
Kính gửi  những người bạn Tứ Hải

 Bắt đầu từ ý tưởng về một sân chơi cho những người yêu thích các hoạt động văn hoá truyền thống, trong suốt 8 năm qua, Tứ Hải đã nhận được rất nhiều tình cảm và sự ủng hộ từ các bạn. Chúng tôi luôn biết ơn và tự hào về điều này.

Đã 8 năm nay, Quán Tứ Hải cũng như website Tứ Hải đã trở thành địa chỉ thân thuộc của nhiều nhóm bạn chung sở thích như Vespa, xe cổ, đồ cũ, âm nhạc, mỹ thuật, thư pháp, võ thuật… cũng như những người yêu thích nghiên cứu chuyên sâu về y học cổ truyền, văn hoá và triết học Phương Đông,…

Tuy nhiên, sức người có hạn.

Để có thể tập trung hơn nữa vào một số hoạt động, Tứ Hải đã quyết định sẽ chính thức chuyển đổi mô hình từ một quán ăn thành một địa chỉ văn hoá, phục vụ các hoạt động nghiên cứu chuyên sâu về Y học truyền thống và tìm hiểu văn hoá Phương Đông.

Thực hiện việc này, Tứ Hải xin trân trọng thông báo:  Bắt đầu từ dịp nghỉ tết Nguyên đán năm 2011 sang năm 2012 chúng tôi sẽ chính thức ngừng cung cấp các dịch vụ ăn uống tại địa chỉ ngõ 124 Âu Cơ. Mặc dù vậy, các hoạt động khác của Tứ Hải vẫn tiếp tục được duy trì.

Một lần nữa, Tứ Hải xin vô cùng cảm ơn các anh, chị và các bạn đã ủng hộ trong suốt khoảng thời gian qua, đồng thời rất mong tất cả mọi người  thông cảm cho quyết định này của chúng tôi.

Trân trọng.
 
 Trang chủ Tứ Hải  Home   Help Search Calendar Members Login Register  
Pages: [1] 2   Go Down
  Print  
Author Topic: CA TRÙ - "DÂN CA" CỦA NGƯỜI HÀ NỘI  (Read 1532 times)
0 Members and 1 Guest are viewing this topic.
Nhimxu
Global Moderator
Jr. Member
*****
Offline Offline

Posts: 79


« on: July 31, 2008, 11:34:05 AM »

Khi nói đến đặc trưng trong âm nhạc Hà Nội, không gì bằng nói đến kho tàng âm nhạc dân gian của vùng đó, để khi nét nhạc ấy vang lên thì người nghe nhận ra ngay, nó là ngôn ngữ âm nhạc của Hà Nội mà không cần phải kèm theo ca từ là những địa danh như: Hoàn Kiếm, Đông Đô nữa. Chẳng hạn như Dân ca Quan họ, ví dặm Nghệ Tĩnh, Ca Huế và các điệu Lý ở phía Nam v.v... Khi nét nhạc của mỗi vùng ấy vang lên thì người nghe nhận ra ngay nó là âm nhạc của vùng nào rồi. Vậy âm nhạc dân gian cổ truyền của Hà Nội là gì? Đó là dòng nhạc Ca Trù.

Ngày nay thành phố huế có một kho tàng Ca Huế mang rõ nét bản sắc thanh lịch của người xứ Huế. Đó là nhờ Huế được thừa hưởng nền âm nhạc Cung Đình Huế xưa để lại; trong đó có cả múa Cung Đình nữa. Vậy lẽ nào Hà Nội ngày nay lại không được thừa hưởng nền âm nhạc Cung Đình Thăng Long xưa - một nền âm nhạc được tạo dựng từ khi nhà Lý lấy vùng đất Đại La này làm Đế Đô của nước Đại Việt. Và dòng nhạc ấy ngay từ thời đó đã phát triển rực rỡ, từng có một ca sĩ tên là Đào Thị: Hát hay, múa giỏi được vua Lý Thái Tổ (1010 - 1028) ban thưởng nên dòng nhạc ấy về sau còn có tên là hát ả Đào (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư tập 1 kỷ nhà Lý).

Từ đó, theo dòng thời gian từng thế hệ ca công, sáng tác, vũ đạo được tuyển chọn trong những người tài hoa của mọi miền đất nước đưa về phục vụ trong Cung Đình. Để rồi ngoài giờ phục vụ trong Cung Cấm hoặc khi về hưu họ lại lập ra các Phường, Hội, Nhóm ca nhạc thính phòng khắp ngoài "36 phố phường". Kẻ Chợ, hoặc lập thành những "Thái ấp" quanh Hà Nội mà ngày nay những nơi đó còn có những nhà thờ các vị Tổ của lối hát Ca Trù, như ở vùng Nghĩa Đô - Từ Liêm và Vùng Lỗ khê Đông Anh. Đó là chưa kể đến các tao nhân mặc khách là kẻ sĩ của cả vùng Bắc Kỳ thường hay lui tới đất Hà thành góp phần làm cho dòng nhạc Ca Trù càng thêm uyên thâm kiêu sa, để rồi dòng nhạc ấy trở thành tiếng nói tâm hồn, tình cảm in sâu vào tiềm thức của từng thế hệ người đất Tràng An. Nhờ đó từ khi kinh đô dời vào Phú xuân từ năm 1802 - nhưng dòng nhạc Ca Trù vẫn sống với người Thăng Long như Ca huế của người huế ngày nay vậy.

Tuy nhiên Ca Trù là tinh hoa của cả nước góp lại và nó có cội nguồn từ lối hát Cửa Đền - một lối hát tín ngưỡng của các thầy cúng (phù thủy, Thầy mo) và được ra đời từ thuở mới có dấu hiệu tín ngưỡng, mà dạng tín ngưỡng tang lễ người thân khi qua đời là có đầu tiên (đó là kiểu hát khóc nỉ non, kể lại công trạng của người đã khuất và nỗi tiếc thương của con cháu, để cầu chúc cho hương hồn người thân nơi chín suối an giấc ngàn thu. Tín ngưỡng thoạt đầu là một hiện tượng rất cụ thể và đơn giản như vậy, dần về sau mới thành một hệ thống tư tưởng). Với lối hát Cửa Đền đầu tiên này của người Kinh, thì nhạc cụ là bộ gõ, chất liệu bằng tre già, dùng mặt cật để gõ vào nhau cho trong tiếng: Gồm một khổ tre dài, chừng 1 thước ta, to khoảng bằng 3 ngón tay và hai thanh tre nhỏ.

Người hát mặc áo dài tròn không xẻ tà, trùm xuống tận gót ngồi quặt chân về một bên, hai tay cầm hai thanh tre nhỏ gõ lên khổ tre lớn kia đặt ngang trước mặt, theo nhịp hát. (Kiểu dáng này ngày nay vẫn còn thấy trong hát Then của người Thái. Phải chăng nó cũng đồng dạng trong lối nữ hát Cửa Đền của người Kinh). Về sau chế tạo thêm được cây đàn Đáy thì âm thanh của nó cũng có lúc đùng đục, lúc lách cách như tiếng thanh tre gõ vào nhau. Ơở trong hát tín ngưỡng của người Thái Tây Bắc đến thời đã sử dụng được đồ đồng thì bộ gõ bằng tre phải chăng được thay bằng chùm quả nhạc về sau mới có thêm các nhạc cụ như Đàn Tính, hay chiếc sáo Pilao đệm thêm theo nhịp hát cúng.

Lối hát cúng Cửa Đền này ngay từ đầu đã được các trưởng tộc dùng vào việc cầu đảo Trời Đất, Tổ Tiên. Lấy âm nhạc làm tín hiệu truyền lời thỉnh cầu của bộ tộc đến đấng Thần linh và nhận lại ý phán truyền của các đấng Thiêng linh ấy; đến thời kỳ lập quốc gia, các bậc vua chúa cũng lấy dòng nhạc Cửa Đền để hát cúng khi cầu đảo Trời Đất cà Tổ Tiên nơi Thái Miếu. Ơở nước ta từ thời Tiền Lê về trước không có sử sách nào ghi chép về vấn đề này nhưng từ thời nhà Lý về sau, có ghi chép đầy đủ với những quy định trong việc tổ chức, biên chế rất nghiêm ngặt.

Nhạc Cung Đình được lập thành hai ban: Ban nhã nhạc dùng khi tế tự Giao Miếu, và ban nữ nhạc dùng vào dịp khánh tiết, tiếp đãi các sứ thần ngoại quốc hay yến tiệc. Dùng nhã nhạc vào việc tế lễ tự, tỏ ra nghi lễ trang nghiêm trọng đại. Dùng nữ nhạc vào việc vui mừng, tỏ ra thiên hạ thái bình ấm no.

Nhưng từ khi Thăng Long không còn là kinh đô nữa thì dòng nhạc Ca Trù ngoài phần dùng làm hát cúng, mang tính chất linh thiêng thần bí, số khác vẫn dùng vào lối thù tạc của những bậc hào hoa kẻ sĩ trong các phường, hội trên đất Cố đô. Đồng thời dòng nhạc Ca Trù này cũng được những người đào, kép sống ở đất Hà Thành mang về quê mình tạo ra một dị bản mới để một vài đời sau có nơi đã tự coi Ca Trù được sinh ra ở quê mình. Chẳng hạn như ở Hà Tĩnh cháu chắt của cụ Nguyễn Công Trứ nói: Cây đàn Đáy là do Đinh Lễ một nho sinh ở làng Cổ Đam huyện Nghiên Xuyên làm ra từ thế kỷ XV. (Chúng tôi nghĩ khác, nên năm 1985 có viết bài "Huyền thoại về cây đài Đáy" nó là nó ra đời ở đất Tràng An. Vì cho rầng đất Tràng An là cái nôi của nhạc Ca Trù với những tài ba về lối hát và ngón đàn mà ngay ở thời nay vẫn còn thấy, như cụ Quách Thị Hồ và cụ Đinh Khắc Ban)

Dòng nhạc Ca Trù ở cái nôi đất Hà Thành vẫn phát triển theo nhịp sống của nó. Nhưng vào những thập kỷ đầu của thế kỷ này lối ăn chơi của phương Tây đã theo gót giầy của người Pháp tràn vào Việt Nam, cả Hà Nội rộ lên cơn sốt nạn đào rượu, các chủ chứa đã lợi dụng lối hát Aả Đào để câu khách. Bằng cách thuê vài cặp đào, kéo giỏi nghề Cầm Ca hát mua vui, để cho các cô gái không biết hát thì chuốt rượu cho khách làng chơi: Một tay ôm khách, một tay dí rượu vào nên các cô gái ấy được coi là đào rượu.
Đến năm 1945 để lập lại sự lành mạnh của nền văn hóa mới, Hà Nội đã dẹp được nạn đào rượu, nhưng do "giận cá chém thớt" người ta cũng ác cảm lây cả lối hát Ca Trù. Từ đó lối hát này phải im hơi lặng tiếng, nó chỉ còn lại trong ký ức của lớp người già và chỉ được hát ở các hội nghị nghiên cứu, lưu lại trong băng ghi âm. Dòng nhạc Ca Trù như bị người Hà Nội lãng quê và không coi nó là tài sản quý báu của mình nữa.

Mãi đến năm 1977 trở đi, lác đác mới nghe qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi làn điệu Ca Trù và một vài nhạc sĩ đã lấy chất liệu Ca Trù trong sáng tác ca khúc của mình, như Đoàn Bổng, Nguyễn Cường và Trương Ngọc Ninh v.v... rồi ngày nay Hà Nội đã có Câu lạc bộ hát Ca Trù. Điều đó nói lên dòng nhạc Ca Trù đang được tái sinh ở xứ sở này. Tuy nhiên những việc làm ấy cũng chỉ được coi như Câu lạc bộ hát Qua họ, Câu lạc bộ Ca Huế được tổ chức ở Hà Nội mà thôi. Tuyện nhiên chưa bao giờ Ca Trù được coi là sản phẩm âm nhạc dân gian truyền thống của Hà Nội, vì không có lời công bố sanh sách ngôn thuận để gây ý thức về vấn đề này cho người Hà Nội và người cả nước.

Chẳng hạn như lối hát Chầu Văn, trước đây là sản phẩm của cả miền Bắc, nhưng sau năm 1954, để dẹp các điện thờ với đồng bóng thì người Nam Hà đã dang rộng vòng tay đón lối hát Chầu Văn về quê mình nên ngày nay nghiễm nhiên khi nét nhạc Chầu Văn vang lên thì ai cũng nghĩ đó là một tiếng nói của người Nam Hà.

Vậy có thể nói Ca Trù là đứa con xinh suyên, tài hoa mà chỉ có người mẹ Hà Nội mới đủ điều kiện để sinh ra nó. Và người mẹ ấy vẫn nuôi nấng thương yêu, nhưng không hiểu vì sao lại không dám nhận là con mình, nên có khi nó đã bị ghẻ lạnh, sống vất vưởng. Nghĩa là lâu nay người Hà Nội vẫn sinh hoạt Ca Trù nhưng coi nó là sản phẩm chung của cả nước. Không như người Huế: từ các làn điệu Nam ai, Nam bằng và cả Hò giã gạo nữa họ cũng đều gọi chung là Ca Huế.

Đây là cách nhìn có trách nhiệm với lịch sử của những bậc cao minh tiền bối làm âm nhạc ở Xứ đó. Phải chăng là có cao ý của Đào Duy Từ, người ghét kẻ đã bày ra thuyết "Xướng ca vô loài" để mẹ ông, một đào hát, phải thắt cổ tự vẫn, bản thân ông phải tha phương cầu thực ẩn danh là kẻ mục đồng để đợi thời. Do đó chữ Ca Huế phải chăng là để khẳng định rằng Ca Hát cũng là của đất Đế Đô chứ không phải là của kẻ "Vô loài". Vậy phải chăng Ca Trù và người Hà Nội vẫn sống bên nhau nhưng vì chưa có một chiếc "Kính lúp" có đủ khả năng nhìn thấu đáo tìm ra "Gien di truyền" để chứng minh cho "mẹ con" họ nhận ra nhau.

Như trên đã nói Ca Trù là sản phẩm trong lối hát Cửa Đền của những vùng quê xa xưa. Nhưng khi đã đưa vào Cung Đình nó được sự gia công thêm của các bậc thông tuệ, hiểu âm luật, nên dòng nhạc Ca Trù này đã được nâng lên có giá trị tổng hợp mới và nó đã sống gần trọn một ngàn năm, trên đất Thăng Long này.

Việc khẳng định Ca Trù là âm nhạc dân gian truyền thống của Hà Nội có cội nguồn từ nhạc Cung Đình xưa kia là góp phần gìn giữ và phát huy di sản văn hóa của triều Lý để lại; trong đó có dấu tích của Người sáng lập ra kinh đô Thăng Long, đã từng khen ngợi dòng nhạc này, bằng việc ban thưởng cho nữ nghệ sĩ Đào Thị, điều đó như một Chiếu chỉ hay lời Di huấn. Nhờ vậy mà dòng nhạc Ca Trù đạt đến độ thẩm mỹ cao như ngày nay, không những chúng ta mà người sành âm nhạc của nước ngoài cũng ngưỡng mộ. Và mặc dù, nó có tỏa về lại các nơi tạo ra những dị bản, nhưng không có Ca Trù của nơi nào lại có đủ tư chất thanh cao, tao nhã như lối Ca Trù của Hà Nội.

 
-St-

PS. Một địa chỉ để tìm nghe các bài hát ca trù (Sử dụng Jet Audio hoặc Real Media): http://www.vovnews.com.vn/amthanh1/tiengviet/amnhac/catru/catru.htm

Chúc diễn đàn một weekend vui vẻ!
 
« Last Edit: October 29, 2008, 10:56:23 AM by Đom đóm » Logged
CVHOANLUONG
Jr. Member
**
Offline Offline

Posts: 51



« Reply #1 on: July 31, 2008, 11:40:06 AM »

Gửi ông toto  

Hát ả đào (Ca trù) được định hình với tư cách là một thể loại ca nhạc có đặc trưng, phong cách riêng vào khoảng thế kỷ 15. Ban đầu nó là lối Hát cửa đình. Dần dần thể loại này tách ra để trở thành lối hát thính phòng rất được ưa thích của người Việt ở phía bắc. đâu phải là dân ca của người Hà Nội
Sao ông lại hồ đồ đặt tiêu đề trẻ con chạy lon ton thế nhỉ "Ca trù - Dân ca của người Hà Nội".
Ông nên tập chung chữa bệnh suy nhược cơ thể của ông đi.

Logged
Bích Bu Bô
Newbie
*
Offline Offline

Gender: Female
Posts: 10



Email
« Reply #2 on: July 31, 2008, 11:41:03 AM »

Ca trù là một trong những loại hình âm nhạc truyền thống của Việt Nam. Xuất hiện vào đầu thế kỷ XVI, trải qua những biến cố thăng trầm lịch sử, có lúc tưởng chừng như không thể tồn tại được, nhưng với những đặc trưng về loại hình nghệ thuật độc đáo, sự phối hợp tuyệt vời giữa ca từ và giọng hát hoà cùng các nhạc khí: phách, đàn đáy, trống chầu… cho tới ngày nay, ca trù đã khẳng định được vị trí quan trọng không chỉ của Việt Nam mà của cả nhân loại. Đây là môn nghệ thuật dân gian đang được Việt Nam đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.


Tên gọi và nguồn gốc

Ca trù còn có rất nhiều tên gọi.Tuỳ từng địa phương, từng thời điểm mà hát ca trù còn gọi là hát ả đào, hát cô đầu, hay hát nhà tơ…tuy nhiên dù có tồn tại ở dạng tên gọi nào thì sự tồn tại của ca trù luôn gắn liền với các đào nương “ không có đào nương bất thành ca trù, khi nói đến ca trù không thể không nói tới đào nương”. Để trở thành một đào nương cũng không phải là chuyện dễ, phải hội được nhiều tiêu chuẩn khắt khe như giọng hát, năng khiếu âm nhạc (thẩm âm, gõ phách), tri thức âm nhạc và văn thơ, lòng đam mê và kiên trì...sự tồn tại của ca trù được quyết định bởi chính các đào nương. Các đào nương chính là những người chuyền tải và thể hiện những cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của ca trù, giúp ca trù tồn tại cho đến ngày nay.

Ca trù được tổ chức chặt chẽ thành phường, giáo phường, do trùm phường và quản giáp cai quản. Ca trù có qui chế về sự truyền nghề, cách học đàn học hát, có những phong tục trong sự nhìn nhận đào nương rành nghề, như lễ mở xiêm áo (thầy cho phép mặc áo đào nương để biểu diễn chánh thức lần đầu tiên trong đình làng gọi là Hát cửa đình), có nhũng qui chế về việc chọn đào nương đi hát thi (ngoài tài năng và sắc diện cần phải có đức hạnh tốt). Các cuộc Hát thi và phát giải được tổ chức rành rẽ, các lễ hội được cử hành rất nghiêm chỉnh.

Ca trù được bắt nguồn từ dân ca, dân nhạc cộng với một số trò diễn và múa dân gian. Ca trù lúc khởi thủy cũng như trong một thời gian khá dài là một bộ môn nghệ thuật tổng hợp, bao gồm nhạc, thơ, múa và trò diễn. Chính vì vậy độc đáo của ca trù chính là sự phối hợp đa dạng, tinh vi, nhuần chuyễn giữa thi ca và âm nhạc, đôi khi có cả múa.

Loại hình

Hầu hết các loại hình nhạc cổ Việt Nam đều có sự phối hợp giữa thơ và nhạc như: vè, đồng dao có thơ 3, 4 chữ, các bài hát ru, hò, lý, các làn điệu chèo thường là thơ lục bát, lục bát biến thể hay song thất lục bát. Không chỉ có vậy, ca trù là một loại nhạc thính phòng, như ca Huế miền Trung, ca Tài tử miền Nam. Nhưng trong các loại nhạc thính phòng này, bài ca có những nét nhạc cố định, nếu đặt lời mới cũng phải tuân theo nét nhạc đó, còn ca trù giai điệu không cố định mà tùy theo thanh giọng của lời thơ, vì vậy mà trong các bài Gửi thư, Hát ru, Bắc phản, Mưỡu… có những giai điệu khác nhau, cùng một thể hát nói nhưng có rất nhiều bài. Mỗi loại thơ đều có nét nhạc và tiết tấu đặc biệt tạo ra nhiều thể trong ca trù.

Đặc biệt trong ca trù thanh nhạc và khí nhạc đi song song với nhau và mỗi loại đều có nét đặc thù. Về thanh nhạc, ngoài hát tuồng có những kỹ thuật phong phú và độc đáo còn các bộ môn ca nhạc cổ truyền khác đều không có kỹ thuật thanh nhạc phức tạp, tinh vi như ca trù. Thể hiện rõ nhất là khi đào nương cất tiếng hát, kỹ thuật hát rất điêu luyện, không cần há to miệng, không đẩy mạnh hơi từ buồng phổi mà ém hơi trong cổ, ậm ự mà lời ca vẫn rõ ràng, tròn vành rõ chữ. Hát trong cửa đình không cần ngân nga. Hát chơi có cách đổ hột, đổ con kiến làm cho tiếng hát thêm duyên, có khi như tiếng nức nở, thở than quyện vào lòng người.

  Nhạc cụ

Trong ca trù bên cạnh thanh nhạc thì khí nhạc cũng hết sức quan trọng và đặc biệt. Khí nhạc gồm: cỗ phách, đàn đáy, và trống chầu. Cỗ phách chỉ là một thanh tre hay một mảnh gỗ gọi là bàn phách và hai chiếc dùi gỗ là phách cái và phách con. Gõ hai dùi vào cỗ phách tạo nên tiếng trầm tiếng bổng, tiếng mạnh, tiếng nhẹ, tiếng thấp, tiếng cao, tiếng trong, tiếng đục, tiếng dương, tiếng âm...Người biểu diễn cũng hết sức nhịp nhàng, tay cầm phách cái, phách con, tay đưa lên cao, tay đưa xuống thấp uyển chuyển như múa.

Không thể không nói đến một loại nhạc cụ quan trọng, đó là đàn đáy được dùng trong ca trù. Thùng đàn hình chữ nhật hay hình thang, mặt đàn bằng cây ngô đồng, có mặt mà không có đáy, cần rất dài, gắn 10 hay 11 phím bằng tre rất cao, phím đầu ở ngay giữa bề dài của dây đàn. Đàn mắc 3 dây tơ, có cách nhấn khác thường, tiếng vê, tiếng vẩy, tiếng lia, lúc chân phương khi dìu dặt, dễ đi vào lòng người.

Góp thêm âm hưởng là trống chầu: trống chầu trong ca trù cũng khác với trống chầu trong Tuồng, Hát bội...cả ở kích thước lẫn cách đánh. Kích thước và hình thức của trống chầu rất gần với trống đế của chèo nhưng cách đánh và chức năng hoàn toàn khác. Dùi trống không gọi là “dùi” mà gọi là “roi chầu”. Roi chầu bằng gỗ, dài hơn dùi trống khách. Người gõ trống (quan viên) phải là người sành về ca trù phải là người am hiểu thấu đáo âm luật Ca trù mới có thể cầm roi được. Người đánh trống ít nhất phải biết 5 phép trống dục, 6 phép trống chầu và nhiều cách biến hóa khác nữa. Khi đã cùng hòa trong một canh hát thì tiếng trống sẽ trở thành nhạc cụ thứ ba sau phách và đàn nhằm tôn vinh tiếng hát với lời thơ. Tất cả trở thành một bản hòa tấu vô cùng phong phú của nhiều âm sắc, nhiều tính nǎng khác nhau và luôn có sự thay đổi, biến hóa không ngừng.

Ca trù đã được cơ quan, tổ chức quốc tế tôn vinh và xuất bản dưới dạng đĩa hát. Tổng thư ký Hội đồng quốc tế Âm nhạc thuộc Unesco Jack Bornoff, Giám đốc Viện quốc tế nghiên cứu Âm nhạc với phương pháp đối chiếu tại Tây Bá Linh (Đức), GS Alain Danielou đã tặng Bản danh dự cho NSND Quách Thị Hồ, người đã tham gia vào việc thực hiện đĩa hát Ca trù và Quan họ do Unesco phát hành. Đĩa hát nầy được Unesco gởi tặng trên 400 trường Đại học và Nhà Văn hoá của nhiều nước Âu, Á, Mỹ, Úc, Phi.

Năm 1994 tại Paris, đĩa Ca trù do Nhà Văn hoá Thế giới phát hành với sự tham gia của nhóm Ca trù Thái Hà được Laurent Aubert, nhà phê bình báo Thế giới Âm nhạc (Le Monde de la Musique) xếp hạng “Choc” (chấn động), hạng cao nhất.    

Năm 1985, Ca trù là 1 trong 9 tiết mục được tuyển lựa vào Diễn đàn âm nhạc châu Á do Unesco tổ chức tại Bình Nhưỡng (CHDCND Triều Tiên).

Ngoài ra, ca trù còn được nhiều nhạc sĩ, nhạc học gia nước ngoài theo học, tìm hiểu, nghiên cứu: TS Barley Norton (Anh) Thạc sĩ Alienor Anisensel (Pháp) GS Stephen Addiss (Mỹ)... Ca trù được giới thiệu tại Đại học Sorbonne Paris, Đại học Hawaii at Manoa Honolulu (GS Trần Văn Khê thuyết giảng).

Nghệ thuật ca trù của Việt Nam đã bộc lộ được sự quyến rũ, thanh tao và độc đáo. Những đặc trưng riêng biệt của nó đã tạo nên sự độc nhất vô nhị không có ở bất kỳ loại hình nghệ thuật nào. Hơn nữa, ca trù còn có bề dầy lịch sử, chiều sâu nghệ thuật, được sự đón nhận nồng hậu của người trong nước và nước ngoài, sự tôn vinh và tài trợ của các tổ chức quốc tế, rất xứng đáng được Unesco công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại trong tương lai.
Logged
Bích Bu Bô
Newbie
*
Offline Offline

Gender: Female
Posts: 10



Email
« Reply #3 on: July 31, 2008, 11:42:25 AM »

Gửi ông toto  

Hát ả đào (Ca trù) được định hình với tư cách là một thể loại ca nhạc có đặc trưng, phong cách riêng vào khoảng thế kỷ 15. Ban đầu nó là lối Hát cửa đình. Dần dần thể loại này tách ra để trở thành lối hát thính phòng rất được ưa thích của người Việt ở phía bắc. đâu phải là dân ca của người Hà Nội
Sao ông lại hồ đồ đặt tiêu đề trẻ con chạy lon ton thế nhỉ "Ca trù - Dân ca của người Hà Nội".
Ông nên tập trung chữa bệnh suy nhược cơ thể của ông đi.



Trên diễn đàn sao lại nỡ nói nặng lời vậy?!
Logged
CVHOANLUONG
Jr. Member
**
Offline Offline

Posts: 51



« Reply #4 on: July 31, 2008, 11:54:23 AM »

Xin lỗi các đồng chí lãnh đạo và toàn thể anh chỉ em đang đọc, đã đọc và sẽ đọc. Tính em nó nóng thế đấy, nhưng được cái là thẳng như ruột ngựa, phổi bò. Nên được cái nói to, rõ ràng.
Em xin có ý kiến như thế này: Có lẽ phải thêm dấu ? đằng sau tiêu đề "Ca trù - Dân ca của người Hà Nội ? "  thì sẽ chính xác hơn chăng?
Logged
Nhimxu
Global Moderator
Jr. Member
*****
Offline Offline

Posts: 79


« Reply #5 on: July 31, 2008, 11:56:53 AM »

to: CVhoanluong

1. Đồng ý một phần nào đó với bạn. Có lẽ nên để tiêu đề "dân ca của người HN" trong ngoặc như thế này thì hơn, bởi vì nó hàm một ý nghĩa về cảm tính văn hoá nhiều hơn là một nhận định học thuật. Tôi cũng không có ý khác bạn về bản chất vấn đề, nhưng tôi thích tiêu đề này và bài viết này, vậy nên tôi giữ nguyên tiêu đề và chia sẻ nó với mọi người. Ngay trong nội dung của bài viết cũng nêu rõ "...Tuy nhiên Ca Trù là tinh hoa của cả nước góp lại và nó có cội nguồn từ lối hát Cửa Đền..."  

2. Bệnh suy nhược cơ thể của toto chỉ là hình thức, không nằm trong tâm tưởng

Kính
Logged
CVHOANLUONG
Jr. Member
**
Offline Offline

Posts: 51



« Reply #6 on: July 31, 2008, 12:14:26 PM »

to: CVhoanluong

1.  hàm một ý nghĩa về cảm tính văn hoá nhiều hơn là một nhận định học thuật.
Kính
Vì thế mà dấu hỏi nên đặt đằng sau thì sẽ càng giá trị ....
Logged
Nhimxu
Global Moderator
Jr. Member
*****
Offline Offline

Posts: 79


« Reply #7 on: July 31, 2008, 12:30:41 PM »

Khi trả lời rồi toto mới nhận được reply của bác cvhoanluong. Toto có mấy ý kiến thế này để cùng các bác thảo luận:

Lối nói "Ca trù - Dân ca của người Hà nội" là một lối nói ngoa ngôn mà ta hay dùng để nhấn mạnh, kiểu như mấy bài viết mà toto có thấy ở đâu đó, như "Hà nội - Thành phố của xe đạp" hay "Phở - Văn hoá ẩm thực của người Hà Nội" , mặc dù PHỞ hay XE ĐẠP nếu xét kỹ ra thì không phải là do người HN sáng chế hay độc quyền. Cách đặt tên của tác giả chắc là muốn nhấn mạnh cái tinh thần ấy. Nếu đặt dấu chấm hỏi (?), mọi người có thể nghĩ "phải chăng, ca trù là...", thì theo thiển ý của toto nó không mang tinh thần của bài viết hay hàm ý của tác giả.

Về cá nhân mình, toto nhận ra sự đồng cảm của mình với tác giả ở một vài khía cạnh, có lẽ là do những cảm xúc phiến diện và rất riêng tư. Đặc biệt có những lúc đang ở rất xa nhà mà nghe thấy vẳng đâu đó tiếng ca trù, toto cảm thấy mình đã về nhà, và đã lại trở thành một cậu nhóc thời trèo me trèo sấu...

Cảm ơn các bác quan tâm đến chủ đề này. Mong các bác tiếp tục chỉ giáo!
« Last Edit: August 02, 2008, 09:50:16 AM by Nhimxu » Logged
Nhimxu
Global Moderator
Jr. Member
*****
Offline Offline

Posts: 79


« Reply #8 on: August 02, 2008, 09:48:36 AM »

TPO - Ngãi Cầu, Hoài Đức- Hà Tây là một trong 2 làng ca trù đất Bắc. Hội làng bắt đầu vào mùng 7 Tết và thường kéo dài đến mùng 9-10. Đặc biệt, tối mùng 8 có tiết mục hát cửa đình xịn không đâu có.
Làng cách Hà Nội 15km đường trải nhựa, qua cầu Hà Đông rẽ phải đi một mạch khoảng 7km là ô tô có thể đỗ xịch trước cửa đình.
Chúng tôi đến vào lúc chiều tối, khi mọi việc tế tự đã xong. Trong đình các cụ cao niên đang ngồi chờ cỗ bưng lên.



Mâm cỗ đặc biệt chỉ có xôi trắng, thịt gà sống thiến (chủ yếu là mỡ và da) và chuối tiêu. Bên kia đường, bãi đất trống cho đám trai tráng và trẻ con chơi các trò bài bạc cò con, phi tiêu, ném bóng có thưởng hoặc đu quay.


Kế đó là chiếu xóc đĩa. Ai không bị cờ bạc cám dỗ có thể ngồi ăn ngô nướng, cá nướng... bên bếp than hồng.
Chúng tôi vào thăm nhà cụ Nguyễn Thị Chúc - nghệ nhân ca trù duy nhất trong làng và là một trong 2 nghệ nhân của miền Bắc (người kia là NSƯT Phó Thị Kim Đức cung người Ngãi Cầu nhưng ở Hà Nội). Ngôi nhà 3 gian tuềnh toàng. Cụ rót nước tiếp khách.
Đột nhập vào gian trong thấy bếp ga, và bên kia là cây đàn dựng sẵn. Đợi đoàn của đệ tử chân truyền Phạm Thị Huệ (CLB Ca trù Thăng Long) về là thầy trò bà cháu đưa nhau ra đình. Tại đình, bà Chúc cùng học trò dâng lễ cho các cụ tiên chỉ rồi khấn trước bàn thờ.


Bà Chúc có thể coi là nghệ nhân ca trù có nhiều học trò nhất cho đến lúc này. Phong cách ca trù Ngãi Cầu không chỉ truyền đến Hà Nội mà còn đến tận Thái Bình


Trước khi buổi hát bắt đầu, vị chủ tế thi lễ trước bàn thờ. Hai mâm nhôm được bày ra. Bà Chúc mở màn bằng bài Thét nhạc. Đúng thủ tục còn có hát dâng hương và hát giai (do một nam giới đứng vừa đàn vừa hát)...


Chiếu trên là nơi dành cho các quan viên khả kính. Vị chủ tế mời một số lão niên ra cầm chầu. Tuy nhiên muốn đánh trống cái, các cụ cũng phải trả tiền.


Nguyễn Thị Hường - cháu bà Chúc hát "Gửi thư". Sau, mẹ con đào nương Phạm Thị Huệ, đào nương Bạch Vân (CLB Ca trù Hà Nội) cũng góp giọng trong trích đoạn "Tỳ bà hành". Hát cuối cùng là chị Liêm- người ở làng nhưng lại hát theo phong cách Thái Hà. Chị dùng bộ phách riêng làm từ một thanh tre mộc mạc. Cuối buổi, 2 mâm tiền kha khá chứng tỏ ca trù còn được trọng vọng tại nơi đây.


Hết hát, các học trò còn kéo nhau về nhà bà trùm ăn khao đến gần nửa đêm. Năm nay 78 tuổi, bà trùm ca trù Ngãi Cầu vẫn thường xuyên tham gia biểu diễn với CLB Ca trù Thăng Long  tại đình làng Võng Thị (Tây Hồ- Hà Nội). Đây cũng là địa điểm biểu diễn thường xuyên của CLB vào các chiều Chủ nhật đầu tiên trong tháng.

TPO
« Last Edit: August 02, 2008, 09:51:57 AM by Nhimxu » Logged
Tiêu-diêu
Administrator
Hero Member
*****
Offline Offline

Gender: Male
Posts: 1060


« Reply #9 on: August 14, 2010, 08:40:20 PM »

Khởi động lại đề tài này nào, nhân sự kiện "Ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28 tháng 9 tới ngày 2 tháng 10 năm 2009), ca trù đã được công nhận là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp" và việc Trung tâm văn hóa ca trù Thăng Long đang tiến hành các thủ tục cần thiết để xây dựng một khu nhà hát, một sân chơi chuyên nghiệp cho ca trù.
Để biết thêm, có thể tham khảo tại địa chỉ: http://thanglongcatrutheatre.com
Thân ái!
Logged

Ẩm giả lưu kỳ danh
Bí thư đảng đoàn Tứ Hải
trungnv38
Administrator
Jr. Member
*****
Offline Offline

Gender: Male
Posts: 99


Đại Ca Mập

thiephongviettenem_love
Email
« Reply #10 on: November 08, 2011, 08:59:38 AM »

Ca trù là một bộ môn nghệ thuật truyền thống lâu đời, hết sức độc đáo và có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, văn chương, âm nhạc, mang tư tưởng và triết lý sống của người Việt sâu sắc.

Ra đời từ sớm, Ca trù được hoàn thiện cơ bản về lối hát chơi vào thế kỷ XV, và trải qua quá trình phát triển lâu dài, Ca trù đã xâm nhập vào hầu hết các mặt của đời sống người Việt, khẳng định tư cách độc lập và độc đáo trong bức tranh văn hóa chung của dân tộc.

Sự hồi sinh của nghệ thuật Ca trù trong khoảng vài năm trở lại đây ít nhiều ghi dấu ấn của các câu lạc bộ Ca trù, mà hoạt động của họ dần dà đã đem đến cho nghệ thuật Ca trù hơi thở mới.

Ngày 13/10, Lễ khai mạc Liên hoan ca trù toàn quốc 2011 đã diễn ra trọng thể tại Hà Nội với sự tham gia của hàng trăm nghệ nhân ca trù đến từ 15 câu lạc bộ, giáo phường ca trù trong cả nước.

Liên hoan ca trù là dịp để các cơ quan chức năng tiến hành kiểm kê di sản văn hoá ca trù 2009-2010 tại 15 tỉnh thành có di sản ca trù trong cả nước, nhằm đáp ứng yêu cầu của UNESCO và thực hiện đúng những cam kết đã ghi trong hồ sơ đề cử với UNESCO ca trù là di sản văn hoá phi vật thể năm 2009.

Sau đây là 1 số hình ảnh của đêm ca trù ngày 13/10:











« Last Edit: December 08, 2011, 10:31:23 AM by Đom đóm » Logged

Cây bưởi đào hai cành anh chiết
Em đã cắt trồng bên cạnh giếng khơi
Qua ba năm sau, nhanh quá nhỉ
Bưởi em trồng cành lá đã xanh tươi

Đẹp lắm anh ơi! Con sông Ngàn Phố!
Sáng cả đôi bờ hoa bưởi trắng phau!
Nay mai những chuyến đò xuôi ngược
Bưởi quê mình rời bến nối đuôi
trungnv38
Administrator
Jr. Member
*****
Offline Offline

Gender: Male
Posts: 99


Đại Ca Mập

thiephongviettenem_love
Email
« Reply #11 on: November 08, 2011, 09:00:18 AM »













Logged

Cây bưởi đào hai cành anh chiết
Em đã cắt trồng bên cạnh giếng khơi
Qua ba năm sau, nhanh quá nhỉ
Bưởi em trồng cành lá đã xanh tươi

Đẹp lắm anh ơi! Con sông Ngàn Phố!
Sáng cả đôi bờ hoa bưởi trắng phau!
Nay mai những chuyến đò xuôi ngược
Bưởi quê mình rời bến nối đuôi
trungnv38
Administrator
Jr. Member
*****
Offline Offline

Gender: Male
Posts: 99


Đại Ca Mập

thiephongviettenem_love
Email
« Reply #12 on: November 08, 2011, 09:00:56 AM »















Logged

Cây bưởi đào hai cành anh chiết
Em đã cắt trồng bên cạnh giếng khơi
Qua ba năm sau, nhanh quá nhỉ
Bưởi em trồng cành lá đã xanh tươi

Đẹp lắm anh ơi! Con sông Ngàn Phố!
Sáng cả đôi bờ hoa bưởi trắng phau!
Nay mai những chuyến đò xuôi ngược
Bưởi quê mình rời bến nối đuôi
trungnv38
Administrator
Jr. Member
*****
Offline Offline

Gender: Male
Posts: 99


Đại Ca Mập

thiephongviettenem_love
Email
« Reply #13 on: November 08, 2011, 09:02:47 AM »

Công nhận đi nghe ca trù sướng thiệt, vừa sướng cái tai lại bổ con mắt, nhìn mấy cô đào nương vừa xinh xinh lại tròn tròn mũm mĩm.... Shocked về nhà quên mất vợ lun Roll Eyes
« Last Edit: December 08, 2011, 10:32:05 AM by Đom đóm » Logged

Cây bưởi đào hai cành anh chiết
Em đã cắt trồng bên cạnh giếng khơi
Qua ba năm sau, nhanh quá nhỉ
Bưởi em trồng cành lá đã xanh tươi

Đẹp lắm anh ơi! Con sông Ngàn Phố!
Sáng cả đôi bờ hoa bưởi trắng phau!
Nay mai những chuyến đò xuôi ngược
Bưởi quê mình rời bến nối đuôi
uyennd72
Administrator
Hero Member
*****
Offline Offline

Gender: Female
Posts: 939


Email
« Reply #14 on: November 08, 2011, 10:11:10 AM »

công nhận đi nghe ca trù sướng thiệt, vừa sướng cái tai lại bổ con mắt, nhìn mấy cô đào nương vừa xinh xinh lại tròn tròn mũm mĩm.... Shocked về nhà quên mất vợ lun Roll Eyes

Anh bạn vietnamairline này đa tình quá đó. Wink
Logged

          Thích mùa thu Hà Nội!
Pages: [1] 2   Go Up
  Print  
 
Jump to:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.13 | SMF © 2006-2011, Simple Machines LLC Developed by Joomquery.com Valid XHTML 1.0! Valid CSS!