AN PHỦ SỨ
Newbie
Offline
Gender: 
Posts: 15
|
 |
« Reply #5 on: April 30, 2008, 09:57:56 AM » |
|
Lịch sử văn học các dân tộc trong một giai đoạn tương đối dài người ta thấy các tác phẩm văn học đều xuất xứ từ thơ. Loại hình thái văn học đầu tiên của loài người này phản ảnh những cảm xúc dạt dào, nồng cháy, những tư tưởng đa dạng trong một ngôn ngữ hàm súc, tinh tế, giàu hình ảnh và có nhịp điệu, nói một cách khác, nó kết hợp nhuần nhuyễn nghệ thuật của tình cảm và lý trí, diễn đạt bằng những hình tượng sáng tạo, ngôn ngữ trong sáng và nhịp điệu.Xét cho cùng cho tới nay người ta vẫn chưa hoàn toàn đồng nhất nhau khi nhận diện về thơ, có những khía cạnh khác nhau tùy theo mỗi quan niệm. Hégel coi thơ là “nguồn cảm thông chung của loài người”. Dujardin ảnh hưởng lý thuyết và âm nhạc của Wagner chủ trương “thơ phải hướng về âm nhạc.” Paul Valéry quan niệm “thơ là một ngôn ngữ riêng trong ngôn ngữ chung của nhân loại” và làm thơ có nghĩa là tự tạo cho “ngôn ngữ trở thành một tác phẩm nghệ thuật.” Jakobson trái lại đứng về phương diện ngữ học cho “thơ là một phát ngôn nhắm vào thể cách phát biểu” (la poésie n’est rien d’autre qu’un énoncé vivant à l’expression).
Tại Đông phương Kinh Thi gồm 311 bài thơ xuất hiện từ đầu Tây Chu đến giữa Xuân Thu tức từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 6 trước Tây lịch, do các quan âm nhạc và nhiều nhà quý tộc triều Chu sưu tầm và chỉnh lý. Sau Kinh Thi bị Tần Thủy Hoàng tiêu hủy, đến đời nhà Hán mới được sưu tập lại. Lối thơ trong Kinh Thi không gò ép niêm luật, lời lẽ không đẽo gọt. Chu Hy quan niệm: “Thơ là cái dư âm của lời nói trong, khi lòng người cảm xúc với sự vật mà nó thể hiện ra ngoài.” Định nghĩa của Chu Hy có thể coi là bản chất của thi ca. Tại Tây phương cho đến nay người ta còn nhắc tới Iliade và Odyssée, tương truyền của Homère, xuất hiện vào giữa thế kỷ 8 trước Tây lịch. Iliade gồm 24 bài thơ đề cập tới giai đoạn liên quân Hy Lạp đánh chiếm thành Troie. Odyssée gồm 24 bài thơ, ghi lại thời kỳ phiêu lưu thần kỳ của Ulysse sau chiến thắng thành Troie, trở về Ithaque. Tại nước ta chưa ai biết rõ thi ca xuất hiện thời kỳ nào. Theo sách Văn Hiến Thông Khảo vào năm 990 sứ nhà Tống là Tống Cảo khi được dự bữa tiệc do vua Lê Đại Hành khoản đãi, nhà vua đã Tự Hát Bài Mời Rượu. Tống Cảo tỏ ra không hiểu được lời ca bằng tiếng Việt. Vậy có thể kết luận nghệ thuật ca hát đã phổ biến thời Tiền Lê. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư lại ghi năm 987, dưới thời vua Lê Đại Hành nhà Tống cử Lý Giác sang sứ nước ta.. Khi sứ giả nhà Tống ra về nhà vua sai sư Khuông Việt làm bài ca Vương Lang Quy – có tài liệu ghi Ngọc Lang Quy, Nguyễn Lang Quy – để tiễn biệt. Lý Giác ra về năm đó được mùa lớn. Bài ca của Khuông Việt có thể xem như bài thơ chữ Hán đầu tiên còn lưu trong sử sách. Sư Khuông Việt tên thật là Ngô Chân Lưu (933 – 1011) được vua Đinh Tiên Hoàng trao cho chức Tăng Thống, ban hiệu Khuông Việt Đại Sư. Dưới nhà Tiền Lê sư Khuông Việt được trọng đãi. Sang đời Ly,ù sư Viên Thông làm hàng nghìn bài kệ chữ Hán phổ biến giáo lý đạo Phật. Ngoài ra người ta còn thấy có bài Ngư Nhàn của sư Không Lộ, Cáo Tật Thị Chúng của sư Mãn Giác, Nam Quốc Sơn Hà (1077) của Lý Thường Kiệt (1036 – 1105) :
Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên phân định tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Tạm dịch:
Sông núi nước Nam vua nước Nam ngự Biên giới vạch rõ ràng nơi sách trời Sao quân giặc kia dám đến xâm lăng Cứ thử xem bọn bay sẽ thảm bại
Thể biền ngẫu đó còn thấy trong các bài Biểu (979) của Lê Hoàn thay cho Đinh Tuệ gửi cho nhà Tống báo tin Đinh Liễn mất, Thiên Đô Chiếu (1010) của Lý Thái Tổ, Chiếu Nhường Ngôi (1225) của Lý Chiêu Hoàng, Hịch Tướng Sĩ (1285) của Trần Hưng Đạo, Bình Ngô Đại Cáo (1428) của Nguyễn Trãi (1380 – 1442) . Thơ chữ nôm không thấy tài liệu nào ghi rõ xuất xứ. Chỉ biết Thiền sư Từ Đạo Hạnh (? – 1117) tên thật Từ Lộ để lại bốn bài Vấn Kiều Trí Huyền, Thất Châu, Hữu Không, Thị Tịch Cáo Đại Chúng trình bầy triết lý nhà Phật. Sách Hí Trường Phả Lục (1501) của Lương Thế Vinh ghi Từ Đạo Hạnh để lại một bài giáo trò. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (1479), gồm 15 quyển, của Ngô Sĩ Liên, chưa rõ sinh và mất năm nào, đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1442), biên soạn theo Đại Việt Sử Ký của của Lê Văn Hưu đời Trần và Sử Ký Tục Biên của Phan Phu Tiên đầu thời Lê, chép chuyện năm Nhâm Ngọ (1282) dưới thời vua Trần Nhân Tông (1279 – 1293) tức Thái tử Trần Khâm, có con cá sấu đến sông Lô. Hình bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên – không rõ năm sinh và mất, người làng Lại Hạ, huyện Thanh Lâm, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang, nay thuộc tỉnh Hà Bắc, đỗ Thái học sinh tức Tiến sĩ năm 1247 – được chỉ định làm một bài văn tế ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Vua thấy việc này tương tự chuyện Hàn Dũ bên Trung Hoa, bèn cho gọi là Hàn Thuyên. Bài Văn Tế Cá Sấu của Nguyễn Thuyên hiện nay bị thất lạc. Tác phẩm Phi Sa Tập gồm cả thơ nôm lẫn thơ chữ Hán của Nguyễn Thuyên gồm thơ chữ Hán và thơ nôm nay không còn thấy. Nguyễn Thuyên được coi như người khai sáng thơ nôm đường luật nên được mệnh danh Hàn luật. Vào đời Trần tình trạng thi ca thất lạc trầm trọng không kém, chỉ còn tồn tại một số nhỏ như Cư Trần Lạc Đạo Phú (Phú ở cõi đời vui đạo), Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca (Bài ca được thú lâm tuyền thành đạo) của Trần Nhân Tôn (1258 – 1308), Vịnh Vân Yên Tự Phú (Phú vịnh chùa Vân Yên) của sư Huyền Quang tên thật Lý Đạo Tái (1254 – 1334), Giáo Tử Phú (Phú dạy con) của Mạc Đĩnh Chi (1284 – 1361). Một huyền thoại được lưu truyền, vua Trần Anh Tông (1293 – 1314) giao cho Nguyễn Thị Điểm Bích nhiệm vụ thử lòng sư Huyền Quang. Bởi không lung lạc được sư Huyền Quang, Nguyễn Thị Điểm Bích đã làm một bài thơ xuyên tạc, coi như một bằng chứng nhà sư đã bị dao động trước nhan sắc kiều diễm của mình:
Hạo hạo nguyệt quang ngưng thủy diện Du du trúc ảnh lộng phong sinh Nhiêu kiều thế giới phương phi cảnh Tùng thi Mâu Ni đã bất tình
Phỏng dịch:
Vằng vặc trăng mai ánh nước Hiu hiu gió trúc ngâm sênh Người hòa tươi tốt, cảnh hòa lạ Mâu Thích Ca nào thuở hữu tình
Theo sách Tân Đính Lĩnh Nam Chích Quái của Vũ Quỳnh, Nguyễn Thị Điểm Bích tên Vân Bích, cung phi thứ ba của Trần Anh Tôn, còn gọi là Tam Nương. Thân mẫu của nàng là Tào Thị tên Vân Thoa bị hãm hiếp sinh ra nàng. Sau nhà vua biết nỗi oan của nhà sư, đầy nàng làm thị nữ quét chùa. Thơ nôm xem ra đã thịnh hành nhưng vẫn không được đặt ngang hàng với thơ chữ Hán, ngay cả dưới thời Lê Thánh Tôn (1460 – 1497). Đã vậy Trịnh Tạc (1663) còn truyền tịch thu những tập sách nôm gọi là có hại cho giáo hóa đem đốt đi và được Trịnh Cương tiếp tục thi hành vào đầu thế kỷ 18. Quốc Âm Thi Tập được coi là tác phẩm thơ nôm xưa nhất còn lưu trong văn học sử, không biết gồm bao nhiêu bài thơ nhưng trải qua nhiều biến động lịch sử nhất là sau vụ án chu di tam tộc xảy ra đối với dòng họ Nguyễn Trãi năm 1442 cùng nhiều thi phẩm khác của Nguyễn Trãi đã bị thất tán. Những bài còn lại do công sưu tầm của Trần Khắc Kiệm thế kỷ 15 theo lệnh của vua Lê Thánh Tôn. Năm 1868 Dương Bá Cung sau nhiều năm dò hỏi, sưu tầm đã xuất bản Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trãi (1380 – 1442) – người xã Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang, nay là tỉnh Hải Hưng, con của Nguyễn Ứng Long tức Nguyễn Phi Khanh, đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) triều Hồ Quý Ly (1400), được trao chức Ngự Sử Đài Chánh Chưởng – trong đó có Quốc Âm Thi Tập. Bản Quốc Âm Thi Tập hiện đang lưu hành là phiên âm từ bản in của Dương Bá Cung tức quyển thứ bảy trong Ức Trai Thi Tập gồm 254 bài thơ chia thành bốn mục: Vô đề 192 bài, Thì lệnh môn 21 bài, Hoa mộc môn 34 bài, Cầm thú môn 7 bài. Thơ Nguyễn Công Trứ (1778 – 1859) – người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh, đậu Giải nguyên kỳ thi Hương năm 1819, được bổ Hành tẩu ở Quốc tử giám – được đánh giá cao trong nhân sinh quan và vũ trụ quan, cấu trúc, nhạc điệu mới. Tương truyền Nguyễn Công Trứ sáng tác có đến trên dưới một nghìn bài thơ, đa số bằng chữ nôm, bị thất lạc nhiều, nay chỉ còn khoảng trên 150 bài. Đây là một ngòi bút thơ nôm đặc sắc, có thể nói thành công nhất trong những bài thơ viết bằng thể hát nói. Thời kỳ sách vở khan hiếm, kỹ thuật in ấn giới hạn, không hiện đại như hiện tại, các truyện nôm nhằm truyền khẩu, được sáng tác bằng văn vần, người ta bắt gặp từ thể Đường luật như Truyện Vương Tường khuyết danh, gồm 49 bài thơ – trong đó 38 bài thuộc chính truyện, 10 bài mượn lời người đời than vãn về số phận Vương Tường và 1 bài kết luận, cốt truyện lấy từ truyện Trung Hoa thời Hán viết về cuộc đời Vương Tường tức Vương Chiêu Quân – tới thể lục bát như Tống Trân Cúc Hoa khuyết danh, Trê Cóc khuyết danh. Tiếp tới các truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, Nhị Độ Mai khuyết danh, Phan Trần khuyết danh, Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, Bích Câu Kỳ Ngộ, khuyết danh, Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu đều của Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) sinh tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định...Trong dân gian ca dao còn gọi phong dao, gần gũi với hình thức thi ca, đầu tiên được các nhà nho dùng để gọi bộ phận những câu thơ họ đã quan tâm và ghi chép trong vốn ca hát và lời nói ví truyền miệng phản ánh sâu rộng đời sống của các tầng lớp dân chúng, biểu hiện những nhận thức phổ thông về con người và việc đời, những phương châm xử thế, kinh nghiệm lịch sử – xã hội của dân chúng, có tính trữ tình đậm đà, đồng thời có tính tư tưởng sâu sắc. Từ cuối thế kỳ 18 – đầu thế kỷ 20 đã có những sách Nam Phong Giải Trào của Trần Danh Án (1754 – 1794), Quốc Phong Thi Hợp Thái, Việt Nam Phong Sử, Đại Nam Quốc Túy, Tục Ngữ Phong Dao...tập hợp ghi chép thi ca dân gian. Tuy nhiên chưa thấy có công trình biên khảo nào nghiên cứu và sắp xếp những câu ca dao xuất hiện theo niên đại. Sách Bắc Giang Địa Chí của Nhật Nham Trịnh Như Tấu thuật chuyện khi xưa các sứ thần sang sứ phương Bắc hay các binh lính đi thú Lạng Sơn, Cao Bằng đều phải đi ngang qua sông Thương. Cuộc biệt ly giữa họ và gia đình diễn ra nơi đây thật ai oán:
Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh Ai lên xứ Lạng cùng anh? Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em Tay cầm bầu rượu nắm nem Mải vui quên hết lời em dặn dò Gánh vàng đi đổ sông Ngô Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương
Những câu ca dao này người ta thấy phảng phất trong trường ca Sứ Tình Tân Truyện của Nguyễn Tôn Khuê (1692 – 1766):
Kỳ Lừa cây rợp bóng êm Cửa the nhà gấm vây thêm tư bề Khách thương buôn bán đi về Cửa thông hai nước, chợ lề sáu phiên.
Hay những câu ca dao diễn tả vợ các lính thú khi chồng phải đi đánh trận trong chiến tranh Lê – Mạc ở Cao Bằng:
Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non Nàng về nuôi cái cùng con Cho anh đi trẩy nước non Cao Bằng
Diễn tả sự tiếc nuối nhớ thương của người con trai khi mất người tình, ca dao đã diễn tả được cái tâm trạng khủng hoảng đó, đi không vững, ở không yên, có những hành động không còn là của con người bình thường, thấy hương hoa nọ, màu sắc kia đã vội mường tượng tới người ra đi, thẫn thờ, đớn đau:
Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân Nụ tầm xuân nở ra xanh ngắt Em đã có chồng anh tiếc lắm thay
Đọc những vần ca dao nọ người ta không chạnh nghĩ tới bài Đào Yêu trong Kinh Thi của Trung Hoa, diễn tả cái đức của vua Văn đã cảm hóa được nhân sinh khiến nam nữ trọn vẹn thương yêu nhau, tỏ rõ sự hiền thục của người con gái:
Đào chi yêu yêu Chước chước kỳ hoa Chi tử vu quy Nghi kỳ thất gia
Kim Y Phạm Lệ Oanh dịch:
Cây đào non mơn mởn Rực rỡ muôn đóa hoa Thiếu nữ vui duyên mới Êm hòa đạo thất gia
Như thế có thể coi thơ đã xuất hiện từ bình minh lịch sử của loài người, có người cho rằng nó tạo đời sống tinh thần và thể xác cho vạn vật, tiến triển không ngừng trong chiều hướng khai phá, phá vỡ hàng rào cổ điển, nhập vào dòng hiện đại, phát hiện thơ mới, thơ xuôi (poésie en prose), có khi nó bỏ rơi vai trò của lý trí, đưa tiềm thức và vô thức vào kỹ thuật tạo hình. Liên kết những bộ môn khác của nghệ thuật như nhạc, họa, hội họa và điêu khắc đưa ra những luận điểm hàm xúc về bản chất thi ca. Con đường thơ hiện đại xem ra chưa mấy ai chịu ngưng, tin rằng còn nhiều tìm kiếm, bức phá ngoạn mục.
|